[Truyện Tiểu Thuyết] Đời kỹ nữ (Hồi ức của một geisha) - Tiểu Thuyết - ThuVienCs.Xtgem.Com
wap doc truyen, truyen teen, truyen tieu thuyet, truyen voz
Trang Chủ
>
Chuyên Mục
>
Tiểu Thuyết
Tìm kiếm
|
Báo lỗi
|
Tập tin
(0)
[Truyện Tiểu Thuyết] Đời kỹ nữ (Hồi ức của một geisha)
Khánh
(
Admin
)
(ON)
♥♥♥♥♥
[PM]
Hận Đời Đen Bạc
Tên bài viết :
[Truyện Tiểu Thuyết] Đời kỹ nữ (Hồi ức của một geisha)
Nội dung :
tác giảê nguyên y
Vào một buổi tối mùa xuân năm 1936, khi tôi còn là một chú bé 16 tuổi, bố tôi dẫn tôi đi xem trình diễn ca nhạc múa ở Kyoto. Tôi chỉ nhớ hai điều về buổi trình diễn đó. Điều thứ nhất là bố tôi và tôi là hai người phương Tây duy nhất trong đám khán giả, chúng tôi mới từ quê nhà Hòa Lan sang đây được mấy tuần, cho nên tôi chưa quen với nền văn hóa xa lạ ở xứ này, nhưng tôi cảm thấy rất hấp dẫn. Điều thứ hai là nhờ sau nhiều tháng ra sức học tiếng Nhật, tôi cảm thấy thú vị biết bao khi hiểu được phần nào những câu chuyện họ nói với nhau. Riêng về các thiếu nữ Nhật đang ca múa trên sân khấu trước mặt, tôi không nhớ được gì, ngoại trừ hình ảnh lờ mờ về chiếc kimono màu sắc tươi sáng. Ở một nơi xa với nước Nhật như New York city này, và với khoảng thời gian đã gần 50 năm, nếu không có người phụ nữ đã từng múa trên sân khấu ở thành bạn thân của tôi, đọc cho tôi ghi lại hồi ức của bà ta, thì chắc tôi sẽ không biết gì hết về nền văn hóa đó.
Vì là sử gia, cho nên tôi luôn luôn xem hồi ức là nguồn tài liệu quan trọng. Hồi ức cung cấp tài liệu về xã hội đương thời nhiều hơn chính bản thân của người viết hồi ký. Hồi ký khác với tiểu sử ở chỗ người viết hồi ký không bao giờ hòan tất được kêt cuộc, còn người viết tiểu sử đương nhiên là có. Nếu xem hồi ký là tự nguyện thì chẳng khác nào yêu cầu con thỏ kẻ lại cho chúng ta nghe về cánh đồng mà nó đã nhảy qua. Làm sao nó biết được? Còn nếu chúng ta muốn biết cánh đồng, muốn nghe nói đến những nơi con thỏ không thể thấy được thì chẳng có ai có hoàn cảnh thuận tiện hơn để nói.
Tôi nói chuyện này với tinh thần của một nhà sử học, căn cứ trên các dữ kiện chính xác. Thế nhưng tôi phải thú nhận rằng hồi ký của bà bạn Nitta Sayuri của tôi đã khiến cho tôi phải suy nghĩ lại quan điểm của mình. Đúng thế, bà ấy đã lý giải cho chúng ta hiểu được phần nào thế giới bí mật mà bà đã sống – nếu quý vị muốn nói đấy là quan điểm của con thỏ về cánh đồng cũng được. Chắc không có một tài liệu kỳ lạ nào nói về đời sống kỳ lạ của nàng geisha đầy đủ, hay hơn tài liệu mà bà Sayuri đã cung cấp cho chúng ta. Bà còn để lại cho chúng ta tài liệu nói về bà hết sức đầy đủ, chính xác, có sức thuyết phục hơn cả chương sách nói dông dài về bà trong cuốn “Những viên ngọc lóng lánh của nước Nhật” (Glittering Jewels of Japan), hay hơn cả những bài viết về bà đăng trên các tạp chí xuất bản trong những năm vừa qua. Ít ra thì đây cũng là trường hợp hy hữu, vì không ai biết rõ người viết hồi ký bằng chính đương sự được.
Việc bà Sayuri nổi tiếng như cồn chỉ là chuyện may mắn. Nhiều phụ nữ khác đã sống như bà. Bà Kato Yuki danh tiếng – nàng geisha đã chiếm được trái tim của ông J. Pierpont, và trở thành vợ ngoại hôn của ông trong suốt thập niên đầu tiên của thế kỷ này – đã sống cuộc sống còn hy hữu hơn cả bà Sayuri nữa. Nhưng chỉ có Sayuri mới cung cấp cho ta tư liệu về đời bà đầy đủ như thế này.
Tôi tin rằng bà quyết định làm công việc này là do tình cờ mà ra. Nếu bà vẫn còn ở bên Nhật, chắc cuộc sống của bà sẽ hết sức bận bịu, bà không thể nào tính đến chuyện viết hồi ký được. Thế nhưng, vào năm 1956, hoàn cảnh đã đưa đẩy bà Sayuri di cư sang Hoa Kỳ. Bà đã ở tại khách sạn Waldorf ở New York 40 năm, bà biến căn hộ ở trên tầng thứ 32 của khách sạn này thành một ngôi nhà theo kiểu Nhật tuyệt đẹp. Nhưng cuộc sống của bà ở đây cũng rất nhộn nhịp, căn hộ của bà luôn luôn có nhiều nghệ sĩ, trí thức, doanh nhân Nhật lui tới – thậm chí có cả các ông Bộ trưởng trong nội các và một vài găng tơ nữa. Mãi cho đến năm 1985, nhờ có người quen giới thiệu, tôi mới gặp được bà. Là người nghiên cứu về nước Nhật, tôi đã biết tên tuổi của Sayuri, nhưng hầu như tôi không biết tí gì về bà hết. Nhờ tình bạn ngày càng thắm thiết, bà tin tưởng vào tôi. Một hôm, tôi xin phép bà cho tôi viết về câu chuyện đời bà.
Bà trả lời tôi:
- Được thôi, Jakob-san, nếu ông đích thân ghi âm lời kể của tôi.
Thế là chúng tôi bắt đầu công việc. Sayuri nói rằng bà muốn đọc hồi ký hơn là viết, vì bà đã quen nói mặt đối mặt với người khác, chứ bà không biết cách viết lách ra sao khi ngồi một mình trong phòng. Tôi đồng ý, và bản thảo của tôi đã được bà đọc cho chép 18 tháng liền. Tôi không rành tiếng thổ ngữ ở Kyoto của Sayuri – như các nàng geisha được dân ở đấy gọi là geiko, áo kimono thì được kêu là Obebe – nên khi bắt tay vào việc, tôi đã phải rất vất vả mới dích được đúng nghĩa của chúng. Ngay từ đầu, tôi đã bị thế giới của bà cuốn hút. Chúng tôi thường gặp nhau vào các buổi tối, vì theo thói quen lâu ngày của Sayuri, buổi tối là lúc tinh thần
Tôi cần phải nói rõ cho anh biết cái từ “chị cả” mà Mameha đã nói đến, mặc dù khi ấy chính tôi cũng không hiểu. Khi cô gái nào được phép chuẩn bị tập sự geisha, đều phải thiết lập quan hệ với một geisha dày dặn kinh nghiệm. Mameha có nói đến chị cả của Hatsumono, nàng geisha tiếng tăm Tomihatsu. Khi bà ta huấn luyện cho Hatsumono thì bà đã già rồi, nhưng không phải các chị cả khi nào cũng phải lớn tuổi hơn người geisha họ huấn luyện nhiều. Bất kỳ người geisha nào cũng có thể làm chị cả cho các cô nhỏ tuổi hơn, miễn là họ chỉ cần lớn tuổi hơn một ngày cũng được.
Khi hai cô đã gắn bó với nhau như chị em, họ thực hiện một nghi lễ như nghi lễ đám cưới vậy. Sau đó họ xem nhau như chị em trong một gia đình, gọi nhau là “chị cả” và “em út”. Có geisha không thể đóng vai của mình một cách nghiêm trang như ý muốn, nhưng nếu người chị cả nào làm công việc đứng đắn, sẽ trở thành hình ảnh quan trọng nhất trong cuộc đời của người geisha trẻ. Cô ta sẽ thực hiện được nhiều điều hơn nữa ngoài những việc chỉ bảo đảm cho em út học đúng cách giả vờ làm bối rối và cười khi đàn ông kể chuyện tục tĩu, hay là chỉ giúp cô ta chọn đúng thứ sáp thoa mặt trước khi hóa trang. Cô ta còn phải làm cho cô em út biết cách thu hút sự chú ý của những người mà cô ta cần biết. Cô làm công việc này bằng cách dẫn cô em đi khắp quận Gion, giới thiệu cô em với những bà chủ phòng trà đứng đắn, giới thiệu với người làm đầu tóc giả dùng vào các buổi trình diễn trên sân khấu, với các người chủ các nhà hàng ăn uống quantrọng… Thật sự có rất nhiều việc phải làm. Nhưng công việc gíới thiệu cô em út khắp Gion trong thời gian ban ngày, mới chỉ là nửa công việc của người chị cả. Vì quận Gion giống như một ngôi sao lờ mờ sẽ trở nên rực rỡ sau khi mặt trời lặn. Ban đêm, người chị cả phải dẫn cô em út đi theo mình để vui chơi giải trí, để giới thiệu cô em với khách và người bảo trợ mà cô ta đã thỏa thuận trong những năm qua. Cô ta sẽ nói với họ “Ồ, ông đã gặp cô em út của tôi chưa? Vui lòng cố nhớ đến tên cô ta nhé, vì cô ta sắp thành đại minh tinh rồi! Và vui lòng cho phép cô ta gọi ông vào dịp ông đến thăm Gion sau này” – dĩ nhiên có vài người trả phí tổn cao để có buổi tối nói chuyện với cô gái 14 tuổi, thực tế thì người khách này có thể không gọi cô em út vào dịp đến chơi sau. Nhưng người chị cả và bà chủ phòng trà sẽ tiếp tục đẩy cô ta đến với khách cho tới khi ông ta gọi. Nếu tình hình không xuôi, vì lý do gì đấy mà ông ta không thích…thì thôi, còn trường hợp ông ta thích, có lẽ ông ta sẽ nhận làm người bảo trợ cho cô, y như ông ta là chị cả của cô ta vậy.
Đảm nhiệm vai trò chị cả thường cho ta cảm giác như mang bao gạo đi lui đi tới qua thành phố. Bởi vì người em út không những lệ thuộc vào chị cả như người hành khách lệ thuộc vào chiếc tàu họ đi, mà khi cô em có hành vi không tốt, chính người chị cả phải gánh lấy trách nhiệm. Lý do khiến cho người geisha đã thành đạt và bận bịu nhận lãnh chuyện rắc rối cho cô em út, là vì moi người ở Gion đều có lợi khi người tập sự geisha thành công. Người tập sự có lợi là trả được nợ của mình, và nếu gặp may, cô ta có thể trở thành tình nhân của một người giàu có. Người chị cả có lợi bằng cách nhận một phần tiền thu nhập của cô em – cũng như các bà chủ các phòng trà nơi mà cô gái đến giải trí cho khách. Ngay cả người làm tóc giả, cửa tiệm bán đồ trang sức, và các tiệm bánh kẹo mà cô geisha tập sự thỉnh thoảng đến mua quà tặng cho các người bảo trợ cô ta...có thể họ không trực tiếp nhận tiền của cô gái, nhưng họ có lợi ở chỗ cô geisha thành công thu hút khách đến Gion để xài tiền.
Công bằng mà nói, mọi việc của cô em út đều phụ thuộc vào người chị cả. Thế nhưng có vài cô khó tìm được người chị cả. Người geisha cóc cuộc sống ổn định không muốn mất tiếng tăm của mình bằng cách nhận một cô em út mà cô ta cho là buồn bã hay nhận một cô mà cô ta nghĩ các ông bảo trợ của mình không thích. Mặt khác, bà chủ nhà dạy kỹ nữ đã đầu tư một số tiền lớn vào việc huấn luyện cho người tập sự, sẽ không ngồi yên để đợi cô geisha buồn bã nào đến đề nghị dạy cho cô ta. Kết quả là, nàng geisha thành đạt đưa ra yêu cầu quá sức bà ta chịu được. Người thì bà ta từ chối không chấp nhận, người thì bà không thể…đây là lý do khiến cho Mẹ nghĩ rằng không có nàng geisha nào ở Gion bằng lòng đóng vai chị cả của tôi, giống như ý kiến của Mameha.
Trở lại thời tôi mới đến nhà dạy kỹ nữ, có lẽ Mẹ có ý định để cho Hatsumono – có thể là người đàn bà ném đá dấu tay – nhưng hầu như người tập sự nào cũng tỏ ra sung sướng khi được làm em út cô ta. Hatsumono đã làm chị cả ít ra cũng cho hai nàng geisha trẻ có tiếng ở Gion. Thay vì hành hạ họ như hành hạ tôi, cô ta lại đối xử rất tốt. Chính cô ta chọn người làm em út và cô ta làm thế là vì tiền. Cho nên giao cho Hatsumono làm chị cả của tôi để chỉ hưởng thêm vài đồng là thất sách, vì làm thế chẳng khác nào giao cho con chó dẫn con mèo ra đường, không chóng thì chầy con chó cũng cắn con mèo thôi. Mẹ có thể buộc Hatsumono làm chị cả của tôi – không những chỉ vì Hatsumono ở trong nhà kỹ nữ của chúng tôi mà còn vì cô ta có quá ít áo kimono và phải lệ thuộc vào số áo của nhà kỹ nữ. Nhưng tôi không tin có thế lực nào trên đời này có thể bắt buộc Hatsumono huấn luyện tôi một cách đúng đắn. Tôi tin chắc vào ngày cô ta được yêu cầu đưa tôi đến phòng trà Mizuki để giới thiệu tôi với bà chủ ở đấy, thay vì dẫn tôi đến đấy, thế nào cô cũng đưa tôi ra bờ sông và nói “Hỡi sông Kamo, người có muốn gặp em út không?” rồi đẩy tôi xuống sông.
Còn việc nghĩ đến có người geisha khác lãnh nhiệm vụ huấn luyện tôi…thì, chắc cô ta phải đối đầu với Hatsumono. Ít người nào ở Gion có can đảm dám làm như thế.
Sau ngày tôi gặp Mameha vài tuần, một hôm gần trưa khi tôi đang hầu trà cho Mẹ tiếp khách trong phòng khách thì bà Dì đẩy cửa mở ra.
- Tôi xin lỗi làm gián đọan – bà Dì nói – không biết chị có vui lòng xin lỗi khách một lát được không, chị Kayoko – Kayoko là tên thật của Mẹ, nhưng hiếm khi chúng tôi nghe tên này trong nhà – chúng ta có khách đợi ngoài cửa.
Khi nghe thế, Mẹ nhìn Dì cười, bà nói:
- Dì ơi, chắc Dì có chuyện buồn phải không, nên mới vào báo có khách đến. Dì làm như tôi tớ trong nhà bận lắm đến nỗi Dì phải làm công việc của chúng.
- Tôi nghĩ chắc chị thích nghe tôi báo khách của chúng ta là Mameha.
Tôi đã bắt đầu lo cuộc gặp gỡ của tôi với Mameha chẳng đi đến đâu. Nhưng bây giờ bỗng nghe cô ta đến đây…Trời, máu chạy rần rật trên mặt tôi nóng phừng phừng. Căn phòng im lặng một hồi, rồi khách của Mẹ lên tiếng:
- Cô Mameha..thôi, tôi xin kiếu từ, nhưng ngày mai bà nhớ cho tôi biết cô ta có chuyện gì.
Tôi thừa lúc khách của Mẹ ra về để lẻn ra ngoài. Rồi khi ra ngoài hành lang trước, tôi nghe Mẹ nói chuyện với Dì, chuyện mà tôi không ngờ đến. Bà gõ ống vố vào cái gạt tàn thuốc mà bà đã mang theo từ trong phòng khách ra, và khi bà đưa cái gạt tàn cho tôi, bà nói:
- Này Dì, đến đây sửa lại tóc cho tôi một chút Trước đây tôi chưa bao giờ thấy bà quan tâm đến dung nhan của mình. Đúng là bà mặc áo thật sang, nhưng mắt bà kèm nhèm như cá ươn thối, và đúng là bà xem tóc của mình như kiểu tàu hỏa xem ống khói của nó: ống khói chỉ là vật nằm trên chóp tàu mà thôi.
Trong khi Mẹ ra đón khách ở cửa, tôi đứng chùi cái gạt tàn thuốc trong phòng gia nhân. Tôi cố lắng tai nghe Mameha và Mẹ nói gì, đến nỗi tôi không thấy ngạc nhiên khi hai lỗ tai đau nhừ vì căng thẳng.
Mẹ lên tiếng trước:
- Tôi xin lỗi phải để cô chờ lâu, cô Mameha. Được cô đến thăm thật hân hạnh biết bao!
Rồi Mameha đáp:
- Thưa bà Nitta, mong bà tha lỗi vì ghé nhà bà đột ngột như thế này… Câu chuyện tiếp theo tẻ nhạt như thế một hồi. Việc tôi rángsức để nghe kết quả câu chuyện chẳng khác nào người đàn ông ráng bò lên đỉnh đồi toàn đá.
Cuối cùng hai người đi qua hành lang trước để vào phòng khách. Tôi hết sức muốn nghe câu chuyện của họ đến nỗi tôi lấy cái giẻ lau nhà ở phòng gia nhân ra chùi nền nhà ở hành lang trước phòng khách. Thường khi bà Dì không cho phép tôi làm việc ở đấy khi có khách ở trong phòng, nhưng chính bà cũng bận nghe lén như tôi. Khi chị hầu rót trà xong đi ra, Dì đứng sang một bên để khỏi bị thấy và giữ cửa hé mở một chút để nghe cho rõ. Hai người nói rất nhỏ, và vì quá chú ý lắng tai để nghe, tôi hầu như không chú ý đến những gì xảy ra chung quanh, và kết quả là bỗng tôi bắt gặp ánh mắt của Bí Ngô đang nhìn vào mặt tôi. Cô ta đang quỳ đánh bóng sàn nhà, mặc dù tôi đã làm rồi và cô ta được miễn làm công việc lặt vặt trong nhà.
- Mameha là ai thế? – cô ta hỏi nhỏ tôi.
Rõ ràng cô ta đã nghe các gia nhân bàn tán với nhau, tôi thấy họ ngồi túm tụm với nhau trên hành lang đất, gần bên lối đi lát gỗ.
- Cô ta và Hatsumono là hai người kình địch nhau – tôi đáp – là người có áo kimono mà Hatsumono sai tôi vấy mực vào.
Bí Ngô có vẻ như sắp muốn hỏi gì nữa, nhưng bỗng tôi nghe Mameha nói:
- Thưa bà Nitta, tôi mong bà tha lỗi cho, vì tôi đã quấy rầy công việc của bà, nhưng vì tôi muốn nói chuyện với bà một chút về cô hầu Chiyo của bà.
- Ô đừng – Bí Ngô thốt lên, và nhìn vào mắt tôi để tỏ ý lo lắng, sợ tôi sắp gặp rắc rối.
- Con Chiyo của chúng tôi tính tình hư hỏng – Mẹ đáp – tôi hy vọng nó không làm phiền cô.
- Không, không phải thế. Mấy tuần rồi, tôi không thấy cô ấy đến trường. Thỉnh thoảng tôi có gặp cô ta trên hành lang…mới hôm qua, tôi đoán chắc cô ấy bị bệnh nặng. Tôi vừa mới làm quen với một ông bác sĩ rất giỏi. Tôi xin phép được mời ông ta đến khám cho cô ấy có được không?
- Cô thật tốt, nhưng chắc cô lầm với cô gái khác rồi. Cô không thể gặp Chiyo ở trên hành lang nhà trường được. Nó đã thôi học hai năm rồi.
- Có phải chúng ta đang nói đến cô ấy không? Cô ấy rất đẹp, cặp mắt màu xanh xám hấp dẫn.
- Nó có cặp mắt khác thường. Nhưng chắc có hai cô gái như thế ở Gion. Ai mà biết được!
- Tôi tự hỏi không biết có phải thời gian đã hai năm trôi qua từ khi tôi gặp cô ấy ở đấy không. Có lẽ cô ấy đã gây cho tôi ấn tượng mạnh khiến tôi có cảm giác như mới gần đây. Thưa bà Nitta, xin phép hỏi bà, cô ấy có khỏe không?
- Ồ khỏe, khỏe như cái cây đang lớn và nếu tôi nói không ngoa thì cô ta rất ngang bướng.
- Thì ra cô ta thôi học lâu rồi à? Kỳ lạ nhỉ?
- Đối với một geisha trẻ trung có tiếng như cô, tôi nghĩ Gion là nơi dễ sống. Nhưng cô biết đấy, thời buổi khó khăn, tôi không thể đầu tư tiền bạc vào bất kỳ ai được. Khi tôi nhận ra con Chiyo không xứng hợp… - Tôi tin chắc chúng ta đang nói đến hai cô gái khác nhau rồi – Mameha nói – Thưa bà Nitta, tôi không tin rằng một nhà kinh doanh khôn ngoan như bà mà lại gọi Chiyo là người không xứng hợp.
- Cô có tin chắc tên cô ấy là Chiyo không? – Mẹ hỏi.
Không ai nghĩ có chuyện như thế, nhưng khi hỏi xong, bà ta đứng dậy, đi qua căn phòng nhỏ. Lát sau bà mở cửa và thấy Dì đang áp tai vào cửa để lắng nghe. Dì tránh sang một bên, tỉnh bơ như không có chuyện gì xảy ra, và tôi đoán Mẹ cũng giả vờ không thấy Dì, và bà chỉ nhìn vào tôi và nói:
- Chiyo-Chan, vào đây một lát.
Khi tôi đóng cửa, đến quỳ trên chiếu để chào, Mẹ đã trở về ngồi lại ở bàn:
- Chiyo của chúng tôi đấy – Mẹ nói.
- Đúng là cô gái tôi nghĩ đến – Mameha nói – cô Chiyo, cô mạnh khỏe chứ? Tôi sung sướng khi thấy cô mạnh khỏe như thế này. Tôi vừa mới nói với bà Nitta, tôi rất lo cho sức khỏe của cô. Nhưng trông cô khỏe quá.
- Ồ, thưa cô, tôi rất khỏe – tôi đáp.
- Cám ơn con, Chiyo – Mẹ nói với tôi. Tôi cúi người chào để xin lui ra, nhưng trước khi tôi đứng dậy, Mameha nói:
- Thưa bà Nitta, cô ta thật đẹp. Xin thưa với bà, nhiều lần tôi có ý định đến xin phép bà cho cô ấy làm em út của tôi. Nhưng bây giờ biết cô ta không còn luyện tập… Chắc Mẹ kinh ngạc khi nghe thế, vì mặc dù bà đã đưa tách trà lên miệng để uống, nhưng bà dừng lại nửa chừng và ngồi bất động trong suốt thời gian tôi ra khỏi phòng. Tôi vừa trở về chỗ cũ trên nền hành lang mới nghe bà cất tiếng đáp:
- Cô Mameha, một geisha nổi tiếng như cô…cô có thể có học trò tập sự ở Gion làm em út rất dễ.
- Đúng là nhiều người thường yêu cầu tôi nhận họ làm em út. Nhưng hơn một năm nay, tôi không nhận người nào làm em út hết. Chắc bà nghĩ đang thời buổi đại suy thoái khủng khiếp như thế này, khách làng chơi sẽ thưa bớt, nhưng thực ra, tôi chưa bao giờ quá bận rộn như bây giờ. Tôi nghĩ người giàu vẫn cứ giàu, ngay cả thời buổi như thế này.
- Bây giờ họ cần vui chơi giải trí hơn bao giờ hết – Mẹ đáp – nhưng cô nói… - À, chuyện tôi nói ư? Thì chẳng có gì khác. Chắc tôi không nên dông dài làm mất thì giờ của bà nữa. Tôi rất sung sướng khi thấy Chiyo khỏe mạnh trở lại.
- Vâng, rất khỏe, Nhưng thưa cô Mameha, xin cô nán lại một lát rồi hãy về. Cô vừa nói cô có ý định nhận Chiyo làm em út à?
- Phải, nhưng cô ấy đã thôi tập luyện từ lâu rồi. Vả lại, tôi tin chắc bà có lý do chính đáng khi quyết định không cho cô ấy học tiếp. Tôi không dám mạn đàm đến quyết định của bà.
- Thật khổ là thời buổi bây giờ người ta phải buộc lòng làm những việc ngoài ý muốn của mình. Tôi không thể để cho nó luyện tập tiếp được. Tuy nhiên, thưa cô Mameha, nếu cô thấy nó có tiềm năng, tôi nghĩ tiền bạc cô bỏ ra đầu tư cho nó, thê nào cô cũng được đền bù xứng đáng.
Mẹ đang cố lợi dụng Mameha, không có geisha nào trả tiền học phí cho em út của mình hết.
- Tôi rất muốn đầu tư, nhưng đang lúc đại suy thoái… - Có lẽ tôi phải cố tìm ra cách để giải quyết – Mẹ nói – Nhưng Chiyo là đứa rất cứng đầu và nợ rất nhiều. Tôi nghĩ, nếu nó trả lại được, quả là điều hết sức ngạc nhiên.
- Cô gái đẹp như thế mà ngạc nhiên à? Phải nói nếu cô ta không trả được nợ mới là ngạc nhiên.
- Dù sao cũng còn những chuyện phiền phức trong cuộc sống hơn cả tiền bạc phải không? Ai cũng muốn giúp đỡ một cô gái như Chiyo hết, tôi có thể tìm cách để đầu tư thêm vào nó, chỉ vào việc học thôi, xin cô hiểu cho như thế. Nhưng việc đầu tư này sẽ điđến đâu?
- Tôi biết nợ của Chiyo lớn đấy. Song tôi tin cô ta sẽ trả hết vào năm cô ta hai mươi tuổi.
- Hai mươi? – Mẹ thốt lên – Tôi không tin cô gái nào ở Gion làm được việc ấy. Mà đang lúc gặp thời khó khăn… - Phải, đúng là đất nước đang ở trong thời kỳ suy thoái kinh tế.
- Theo tôi thì đầu tư vào Bí Ngô có lẽ an toàn hơn, dù sao trong trường hợp của Chiyo, với người chị cả như cô, nợ của nó sẽ gia tăng trước khi trả dần được.
Mẹ không nói đến học phí của tôi, mà bà nói đến phí tổn bà phải trả cho Mameha. Một geisha tầm cỡ như Mameha hưởng phần lợi tức của em út lơn hơn một geisha bình thường.
- Thưa cô Mameha, - Mẹ nói tiếp - nếu cô còn thì giờ nán lại, tôi xin đưa ra một đề nghị như thế này cô nghe có được không. Nếu cô Mameha danh tiếng nói rằng Chiyo sẽ trả hết nợ vào năm 20 tuổi, làm sao tôi không tin? Đương nhiên một cô gái như Chiyo sẽ không thành công nếu không có một người chị cả như cô, thế nhưng nhà kỹ nữ của chúng tôi bây giờ gặp nhiều khó khăn, tôi không thể đưa với cô những điều kiện mà cô thường được người ta đề nghị. Cho nên tôi chỉ có thể đề nghị trả cho cô một nửa số tiền công cô lấy của người khác khi nào Chiyo có lợi tức.
- Hiện giờ tôi có nhiều người đưa ra những đề nghị rất rộng rãi – Mameha nói - Nếu tôi nhận cô ta làm em út, tôi không thể nào giảm bớt tiền công được.
- Tôi chưa nói hết, cô Mameha. Đây là đề nghị của tôi, quả thật tôi chỉ có đủ khả năng trả cho cô một nửa số tiền công cô lấy của người khác. Nhưng nếu Chiyo tìm cách trả hết nợ cho tôi vào năm 20 tuổi, như cô tiên kiến, thì tôi sẽ trả hết phần còn lại kia cho cô, cộng thêm tiền phụ trội ba mươi phần trăm nữa. Chắc cô sẽ kiếm được nhiều tiền thêm dài dài.
- Còn nếu đến năm 20 tuổi mà Chiyo không trả được hết nợ?
- Trường hợp này tôi xin lỗi thưa trước là cả hai chúng ta đều lỗ thôi. Nhà kỹ nữ chúng tôi chắc không thể trả nổi tiền phí tổn chúng tôi mắc nợ cô được.
Im lặng một lát rồi Mameha thở dài.
- Thưa bà Nitta, tôi rất dốt tính toán, nhưng nếu tôi hiểu không lầm thì bà muốn tôi nhận lãnh một nhiệm vụ mà bà nghĩ có thể bất khả thi, vì tiền phí tổn ít hơn thể lệ rất nhiều. Nhiều cô ở Gion muốn làm em út tôi, đã đưa ra những điều kiện khích lệ hơn nhiều. Chắc tôi phải từ chối đề nghị của bà thôi.
- Cô nói đúng - Mẹ đáp – ba mươi phần trăm quả thấp thật, nhưng nếu cô thành công, tôi sẽ trả cho cô gấp đôi.
- Nhưng nếu tôi thất bại thì không có gì hết.
- Xin cô đừng nghĩ đến chuyện không có gì. Một phần phí tổn của Chiyo sẽ được trả đền cho cô. Nhà kỹ nữ chỉ không thể trả cho cô số tiền phụ trội mà thôi.
Tôi nghĩ Mameha sẽ trả lời không, nhưng cô ta nói:
- Tôi muốn biết củ thể số nợ của Chiyo bao nhiêu.
- Để tôi lấy sổ kế toán cho cô xem - Mẹ đáp.
Tôi không nghe hai người nói thêm gì nữa vì khi ấy bà Dì không muốn để tôi nghe lén thêm nên sai tôi đi làm một số công việc lặt vặt ở ngoài. Suốt buổi chiều tôi nôn nao bồn chồn vì không biết câu chuyện giữa hai người ra sao. Nếu Mẹ và Mameha không thỏa thuận được với nhau, tôi sẽ sống mãi cuộc đời của một đứa hầu gái y như con rùa vẫn là con rùa.
Khi tôi về lại nhà, Bí Ngô vẫn quỳ trên hành lang gỗ ngoài sân, gảy đàn Shamisen rất ồn. Khi thấy tôi, cô ta có vẻ mừng rỡ gọi tôi đến:
- Kiếm cớ mà vào phòng Mẹ - cô ta nói – Bà ấy ngồi trong phòng suốt cả buổi chiều với cái bàn tính. Mình đóan bà muốn nói chuyện với bạn đấy. Xong việc, chạy xuống đây ngay báo cho mình biết với.
Tôi nghĩ đây là một ý kiến hay. Một trong những công việc lặt vặt tôi làm là mua thuốc xức ghẻ cho bà bếp, nhưng tiệm thuốc hết thuốc, cho nên tôi định lên lầu xin lỗi Mẹ về việc đi mua không có thuốc. Dĩ nhiên bà chẳng quan tâm đến chuyện này, thậm chí có lẽ bà còn không biết chuyện tôi được đi sai làm công chuyện bên ngoài. Nhưng ít ra tôi cũng có cớ để vào phòng bà.
Thì ra khi ấy Mẹ đang nghe kịch trên radio. Mọi khi nếu tôi vào phòng bà như thế, bà ta sẽ vẫy tôi vào và tiếp tục nghe radio. Nhưng hôm nay tôi ngạc nhiên thấy bà tắt radio, gấp sổ lại khi thấy tôi bước vào. Tôi cúi người chào và đến quỳ trước bàn.
- Trong khi cô Mameha đến đây – bà nói – tao thấy mày chùi sàn nhà ở hành lang trước. Mày có nghe tao và cô ấy nói chuyện phải không?
- Không thưa Mẹ, trên mặt sàn có vết xước, Bí Ngô và con cố sức để chùi cho hết.
- Tao chỉ mong sao cho mày thành một geisha tốt chứ không thành một đứa nói láo – bà nói và cười nhưng vì không lấy ống vố ra khỏi miệng, nên bà thổi vào ống vố khiến cho tàn thuốc trong bầu thép văng ra ngoài. Một số tàn thuốc còn cháy bay xuống áo kimono của bà. Bà liền để ống vố lên bàn, đưa tay hất lấy hất để tàn thuốc ra khỏi áo, và khi thấy áo không bị hề hấn gì, bà có vẻ mừng ra mặt.
- Này Chiyo – bà nói tiếp – mày đã ở đây hơn một năm rồi.
- Thưa Mẹ, hơn hai năm.
- Trong thời gian này tao không để ý đến mày. Thế mà hôm nay có một nàng geisha như Mameha đến nói là muốn làm chị cả của mày. Tao thấy khó hiểu quá!
Theo chỗ tôi biết thì Mameha muốn trả thù Hatsumono hơn là muốn giúp tôi. Nhưng tôi không thể nói như thế với Mẹ. Tôi định trả lời Mẹ rằng tôi không biết lý do tại sao Mameha quan tâm đến tôi, nhưng chưa kịp nói, cửa phòng của Mẹ mở ra, và giọng nói của Hatsumono cất lến:
- Xin lỗi Mẹ, con không biết Mẹ đang mắng con ở!
- Nó sắp không phải là con ở nữa rồi - Mẹ đáp – hôm nay chúng ta có người khách đến thăm, chuyện này chắc làm cho cô quan tâm đấy.
- Phải, con nghe Mameha có đến để vớt con cá tuế trong bể nước ra – Hatsumono nói. Cô ta bước tới quỳ trước bàn, quỳ gần đến nỗi tôi phải nhích ra xa để đủ chỗ cho hai người.
- Mameha lấy cớ gì đấy cho rằng Chiyo sẽ hoàn lại số tiền nợ vào năm nó hai mươi tuổi.
Hatsumono quay mặt về phía tôi. Nhìn nụ cười của cô ta, người ta có thể nghĩ đấy là nụ cười nhân hậu của người mẹ thương con. Nhưng cô ta đã nói như thế này:
- Thưa Mẹ, có lẽ được, nếu Mẹ bán nó cho nhà thổ… - Thôi Hatsumono, tôi không mời cô vào đây để nghe chuyện này. Tôi muốn biết vừa rồi cô đã làm gì khiêu khích cô ta?
- Có lẽ con đã làm cho cô Hoàn Hảo cảm thấy thua sút khi đi ngoài đường thì có, chứ làm việc gì khác thì không.
-Cô ta có ý đồ gì đấy. Ta muốn biết ý đồ của cô ta.
- Thưa Mẹ, chẳng có gì bí mật. Cô ta chỉ muốn đuổi kịp con bằng cách dùng cô Bé Ngốc.
Mẹ không trả lời, bà có vẻ suy ngẫm về điều Hatsumono vừa nói. Cuối cùng bà ta nói:
- Có lẽ cô ta nghĩ Chiyo sẽ thành công hơn Bí Ngô, và muốn kiếm ra được nhiều tiền ở nó. Nếu thế thì ai mà có thể trách cô ta được?
- Thưa Mẹ, thực ra Mameha không cần Chiyo để kiếm nhiều tiền đâu. Bộ Mẹ nghĩ là vô cớ mà cô ta chịu bỏ thì giờ ra huấn luyện một con bé đang ở cùng nhà kỹ nữ với con sao? Mameha muốn lập quan hệ với con chó của Mẹ, nếu cô ta nghĩ việc này giúp cô ta loại con ra khỏi Gion.
- Thôi thôi Hatsumono, tại sao cô ta lại muốn lọai cô ra khỏi Gion?
- Vì con đẹp hơn. Có phải cô ta cần có lý do chính đáng không? Cô ta muốn làm nhục con bằng cách nói với mọi người “Ồ, xin mời gặp cô em út của tôi. Cô ta đang sống cùng nhà với Hatsumono đấy. Nhưng cô ta là viên ngọc quý cho nên họ muốn phó thác cô ấy cho tôi để dìu dắt?"
- Tôi không tin Mameha làm thế - Mẹ nói, hơi thở hổn hển.
- Nếu cô ta nghĩ có thể làm cho Chiyo trở thành một geisha giỏi hơn Bí Ngô, - Hatsumono nói tiếp – cô ta sẽ thất vọng cho mà xem, nhưng con vui mừng khi thấy Chiyo mặc áo kimono đi dạo phố. Đây là cơ hội ngàn vàng cho Bí Ngô. Có khi nào Mẹ thấy cảnh con mèo con chụp bắt quả bóng ở sợi dây chưa? Bí Ngô sẽ trở thành xuất sắc sau khi được rèn luyện đầy đủ.
Mẹ có vẻ thích được như thế vì bà nhếch mép như muốn cười.
Ta không biết rồi sẽ có ngày được huy hòang như thế không. Sáng hôm nay khi ta thức dậy thì thấy hai đứa con gái vô dụng đang sống trong nhà kỹ nữ. Giờ đây chúng sẽ chiến đấu với nhau, dưới sự dìu dắt của hai geisha sáng chói nhất Gion.
Ngay chiều hôm sau Mameha gọi tôi đến nhà cô ta. Lần này cô ngồi sẵn ở bàn đợi tôi khi chị hầu mở cửa. Tôi cẩn thận cúi chào nghiêm túc trước khi vào và đến ngồi ở bàn, cúi đầu xuống.
- Thưa cô Mameha, em không biết cái gì dẫn cô đến quyết định…- Tôi nói – Nhưng em không biết làm sao tả hết lòng biết ơn của em..
- Khoan cám ơn đã – cô ta ngắt lời tôi – chưa có gì xảy ra hết. Cô nên nói cho tôi nghe bà Nitta nói gì sau chuyến đến thăm hôm qua của tôi.
- Dạ - tôi đáp - Mẹ có vẻ thắc mắc tại sao cô chú ý đến em. Và nói thật ra, em cũng thế - tôi tưởng cô Mameha sẽ nói gì, nhưng cô không nói – còn phần Hatsumono thì… - Đừng mất công nghĩ đến chuyện gì cô ta nói. Cô đã biết cô ấy rất sung sướng khi thấy cô thất bại, cũng như bà Nitta.
- Em không hiểu tại sao Mẹ cũng muốn thấy em thất bại, vì nếu em thành công, bà ấy cũng có tiền mà.
- Ngoại trừ việc nếu cô trả hết nợ của cô khi cô hai mươi tuổi, bà ta sẽ nợ tôi rất nhiều tiền. Hôm qua tôi đã chơi trò đánh cá với bà ấy - Mameha nói trong khi chị hầu phục vụ trà cho chúng tôi - Tôi không muốn chơi trò đánh cá trừ phi tôi biết chắc cô sẽ thành công. Nhưng nếu tôi là chị cả của cô, chắc cô thừa biết tôi có những điều khoản rất nghiêm ngặt.
Tôi đợi cô nói những điều khoản đó ra nhưng cô chỉ quắc mắt:
- Chiyo, cô phải bỏ cái cách thổi nước trà như thế đi! Trông cô nhà quê quá! Đặt tách nước lên bàn đợi nguội rồi hãy uông.
- Em xin lỗi. Em không để ý.
- Đã đến lúc cô phải để ý, người geisha phải giữ gìn ý tứ trước mặt mọi người . Bây giờ tôi nói các điều nghiêm ngặt cho cô nghe. Trước hết tôi yêu cầu cô làm tất cả những điều tôi yêu cầu mà đừng hỏi tôi hay là nghi ngờ tôi. Tôi biết thỉnh thoảng cô không vâng lời Hatsumono hay bà Nitta, chắc cô cho đấy là việc đáng thông cảm, nhưng đối với tôi, cô nên tuyệt đối vâng lời, đừng để những việc như trước xảy ra nữa.
Hatsumono hoàn toàn đúng. Cuộc đời đã đổi thay rất nhiều rồi. Khi tôi còn nhỏ, con gái mà không vâng lời người lớn sẽ bị trừng phạt rất gắt.
- Cách đây mấy năm, tôi đảm trách huấn luyện hai cô em út - Mameha nói tiếp – Một cô làm việc cật lực, còn cô kia thì lơ là. Một hôm tôi gọi cô ta đến đây nói cho cô ta biết tôi không chấp nhận việc cô ta không vâng lời tôi nữa, nhưng cô ta không nghe lời. Tháng sau tôi bảo cô ta đi tìm một chị cả mới.
- Thưa cô Mameha, em xin hứa như thế với cô. Việc như thế sẽ không bao giờ xảy đến cho em. Em thật cám ơn cô, em cảm thấy em như con tàu lần đầu tiên đi biển được thuận chiều xuôi gió. Em sẽ không tha thứ cho mình nếu làm cho cô bất bình.
- Thế là tốt, nhưng tôi không nói đến việc cô phải làm gì cật lực đâu. Cô phải hết sức cẩn thận đừng để cho Hatsumono lừa cô. Và lạy trời, đừng làm cái gì để nợ của cô bị gia tăng thêm. Ngay cả việc đừng làm bể một tách trà.
Tôi hứa tôi sẽ không làm thế, nhưng thú thật khi nghĩ tới việc Hatsumono lừa bịp tôi, tôi không biết tôi có giữ mình được không và để cho cô ta đánh lừa.
- Còn chuyện này nữa – Mameha tiếp tục - Bất cứ chuyện gì mà cô và tôi bàn với nhau, cô phải giữ thật kín. Cô không được nói lại chuyện ấy cho Hatsumono biết, cho dù đấy là chuyện thời tiết đi nữa, cũng không. Cô hiểu chứ? Nếu Hatsumono có hỏi, cô chỉ đáp như thế này “Ồ cô Hatsumono ơi, cô Mameha không nói chuyện gì hấp dẫn hết. Vừa nghe xong là tôi quên liền. Cô ấy là người quá vô duyên” Tôi nói với Mameha là tôi hiểu.
- Hatsumono là người rất khôn lanh – cô ta nói tiếp - nếu cô chỉ nói hở một tí thôi là cô ta sẽ đoán được hết toàn bộ.
Bỗng Mameha nghiêng người tới trước nói bằng một giọng tức giận:
- Hôm qua khi tôi gặp hai người đi trên đường, hai người đã nói chuyện gì thế?
- Thưa cô không có gì hết – tôi đáp, và mặc dù cô ta quắc mắt nhìn tôi nhưng tôi vẫn cương quyết không nói gì hết.
- Không có gì nghĩa là sao? cô phải trả lời cho tôi, con bé ngốc, nếu không, tối nay tôi sẽ đổ mực vào lỗ tai cô khi cô đang ngủ.
Phải mất một lát tôi mới hiểu ra Mameha đang bắt chước Hatsumono. Tôi thấy thái độ bắt chước của cô không giống, nhưng tôi chợt hiểu cô đang có ý đồ gì, nên tôi đáp:
- Thưa cô Hatsumono, thú thật cô Mameha thường nói chuyện rất vô duyên, em không nhớ được chuyện gì hết. Chúng vào lỗ tai bên này là bay sang lỗ tai bên kia thôi. Hôm qua cô có thật thấy chúng em nói chuyện à? Vì nếu có, thì em cũng không thể nhớ được.
Mameha tiêp tục bắt chước Hatsumono thêm một lát nữa và cuối cùng, cô nói tôi làm tốt. Tôi không tin lắm điều cônói. Bị Mameha hỏi, cho dù cô ta giả làm Hatsumono, cũng không giống như chuyện thực, khi tôi mặt giáp mặt với Hatsumono.
Trong hai năm kể từ khi Mẹ chấm dứt việc học của tôi, tôi hầu như quên hết những gì đã học. Và trong thời gian đi học trước đây, tôi hầu như cũng chẳng học được gì nhiều, vì trí óc tôi bận nghĩ đến trăm nghìn thứ khác. Cho nên khi tôi đi học lại sau khi đã được Mameha nhận làm chị cả, tôi cảm thấy như mình đi học lần đầu tiên.
Tôi đã 12 tuổi rồi, cao gần bằng Mameha rồi. Đi học đã lớn tuổi tưởng chừng như có lợi, nhưng thật sự không phải thế. Hầu hết các cô bắt đầu đi học khi còn nhỏ, có cô theo tập tục cổ truyền đi học lúc mới ba tuổi ba ngày. Số ít đi học lúc còn nhỏ này hầu hết là con của các geisha, học được học cách múa và nghệ thuật pha trà, xem như công việc hàng ngày trong đời sống, như tôi trước đây thường đi bơi trong hồ vậy.
Tôi đã miêu tả cách học đàn Shamisen với cô Chuột cho anh biết ra sao rồi. Nhưng geisha phải học nhiều môn nghệ thuật khác ngòai đàn Shamisen. Thực vậy, từ “gei” trong “geisha” có nghĩa là nghệ thuật, cho nên từ “geisha” có nghĩa là “thợ khéo tay” hay “nghệ nhân”. Bài hoc đầu tiên của tôi vào sáng hôm ấy là học về loại trống nhỏ mà chúng tôi gọi là tsutsumi. Chắc anh thắc mắc tại sao geisha phải học trống làm gì, nhưng câu trả lời rất đơn giản. Trong các buổi đại tiếc hay trong các buổi họp mặt chính thưc ở Gion, geisha chỉ thường múa với đàn Shamisen phụ họa hay với một ca sĩ. Nhưng khi lên trình diễn trên sân khấu, như diễn vở Vũ khúc cố đô vào mỗi mùa xuân, thì phải có đến sáu hay nhiều hơn nhạc công đàn Shamisen hợp nhau làm thành một ban nhạc, được nhiều loại trống đánh đệm và một cây sáo Nhật mà chúng tôi gọi là fue. Cho nên anh thấy đấy, geisha phải biết chơi tất cả các nhạc cụ này, mặc dù cuối cùng họ được khuyên nên chuyên chú vào một hay hai thứ thôi.
Như tôi vưa nói, bài học khi sáng sớm là trống cơm mà chúng tôi gọi là tsutsumi, trống này đánh với thế quỳ như tất cả các nhạc cụ khác mà chúng tôi đã học. Trống tsutsumi khác với các loại trống khác, vì trống được để trên vai và đánh bằng tay, không giống lọai trống Okawa lớn hơn phải để trên đùi, hay trống lớn hơn hết, trống này được gọi là Taiko, phải để nằm nghiêng một bên trên giá và đánh bằng đũa lớn. Tôi lần lượt học hết các lọai trống. Mỗi lọai trống có thể được xem như một nhạc cụ, ngay cả trống cho trẻ em chơi, nhưng thực ra có nhiều cách đánh mỗi lọai trống, như loại trống lớn taiko chẳng hạn, người đánh phải hoa cánh tay qua thân trống rồi mới đánh chiếc đũa vào mặt trống, lối đánh này gọi là Uchikomi, hay khi tay đánh thì tay kia đưa lên, lối đánh này gọi là Sarashi. Còn nhiều cách đánh nữa, và mỗi cách phát ra một âm thanh khác nhau, nhưng chỉ sau khi luyện tập nhiều mới đánh được. Điều quan trọng nhất là ban nhạc thường ngồi trước mặt công chúng, nên các động tác cần phải uyển chuyển duyên dáng, cũng như phải hòa hợp với các nhạc công khác, một nửa là tạo nên âm thanh chính xác, nửa kia là động tác đúng quy cách.
Tiếp theo môn trống, bài học trong buổi sáng là sáo Nhật và đàn Shamisen. Phương pháp học các nhạc cụ này có ít nhiều điểm giống nhau. Giáo viên chơi nhạc trước rồi học viên theo đó mà làm. Có khi chúng tôi trông như bầy thú ở thảo cầm viên, nhưng thường thì không, vì các giáo viên cẩn thận chỉ cho từng người. Như khi bắt đầu học sáo, giáo viên thổi một nốt nhạc, rồi chúng tôi lần lượt thổi lại nôt đó. Thậm chi chỉ sau một nốt thôi, giáo viên tìm ra cả đống chỗ mà nói.
- Này này, cô phải hạ ngón tay út xuống. Đừng chống lên như thế. Còn cô kia, cái ống sáo của cô có mùi hôi hả? Tại sao nhăn lỗ mũi như thế?
Cô giáo rất nghiêm khắc, giống hầu hết các giáo viên khác, và tất nhiên là chúng tôi sợ mắc phải lỗi lầm. Rât nhiều cô giáo lấy cái ống sáo của cô gái thổi sai và đánh lên vai cô ta.
Sau trống, sáo và đàn, bài học tiếp theo là hát. Ở Nhật, chúng tôi thường hát trong các bữa tiệc, và dĩ nhiên đàn ông ở Gion đều thích đi dự tiệc. Nhưng cho dù một cô gái hát không đúng nhạc và không bao giờ được yêu cầu lên trình diễn trước mặt những người khác, cô ta cũng vẫn phải học hát để giúp cô ta hiểu được vở múa. Bởi vì các điệu múa thường được phỏng theo các bài nhạc hay, đều được một ca sĩ hát có đàn đệm theo.
Có nhiều loại ca khúc khác nhau – ôi, quá nhiều, tôi không sao kể hết – nhưng trong các bài học của chúng tôi, chúng tôi chỉ học năm loại khác nhau. Có loại là những bài dân ca phổ biến, có loại là những bài trường ca của kịch nghệ Kabuki kể chuyện cổ tích, còn có những bài như bài thơ phổ nhạc. Tôi thấy khó mà miêu tả hết cho anh những ca khúc này. Nhưng tôi xin nói rằng trong khi tôi coi những ca khúc này là mê ly, thì người nước ngoài lại cho rằng chúng nghe như tiếng mèo kêu trong sân đền hơn là âm nhạc. Quả đúng là cách hát cổ truyền của Nhật nghe có vẻ ê a thật và thường được hát trong họng cho nên âm thanh phát ra ở mũi chứ không phải từ miệng. Nhưng đây là vấn đề phải nghe quen mới thấy hay.
Trong tất cả các môn học, múa và âm nhạc là hai môn chúng tôi phải chú trọng nhất. Vì cô gái nào có giỏi nhiều môn đi nữa, mà không học kỹ cách xử thế hay tư cách thái độ, thì khi đi dự tiệc sẽ bị chê trách ngay. Cho nên đấy là lý do khiến cho giáo viên thường rất gắt gao về mặt tư cách, thái độ của học viên, thậm chí phải chú đến các điểm này ngay cả khi đi trên hành lang đến phòng vệ sinh. Thật vậy, việc một cô gái bị la rầy nặng nề nhất không phải là cô ta sử dụng nhạc cụ sai hay không thuộc lời bài ca, mà vì cô tay để móng tay dơ bẩn, hay tỏ ra bất kính hay vì một việc gì đại loại như thế.
Thỉnh thỏang khi tôi nói chuyện về việc luyện tập của tôi cho những người ngoại quốc nghe, họ thường hỏi tôi “Thế cô học cách cắm hoa khi nào?” – Câu trả lời của tôi là không bao giờ. Bất kỳ ai ngồi trước mặt đàn ông cắm hoa để cho họ mua vui, đều có thể bất thần nhìn lên, bắt gặp họ gục đầu xuống bàn mà ngủ hết. Anh phải nhớ rằng geisha là nhà nghệ sĩ, người trình diễn. Chúng tôi có thể rót rượu sake hay trà cho đàn ông, nhưng chúng tôi không đi lấy dưa chua cho họ nhấm. Và thực tế thì giới geisha có nhiều người hầu hạ nuông chiều, hiếm khichúng tôi phải lo chăm sóc mình, lo chăm sóc phòng ngủ cho ngăn nắp, đừng nói gì đến chuyện cắm hoa để trang điểm cho phòng trà.
Bài học cuối cùng cho buổi sáng là nghệ thuật hầu trà. Đây là môn đã được nhiều sách vở nói đến, cho nên tôi không đi sâu vào chi tiết làm gì. Nhưng cơ bản thì nghệ thuật hầu trà được một hoặc hai người thực hiện, họ ngồi trước mặt khách, chuẩn bị trà theo phương pháp cổ truyền, dùng những cái tách thật đẹp, và những cái lọc bằng tre, và các thứ khác. Thậm chí khách cũng góp phần tham gia vào nghi thức này, vì họ phải cầm tách trà ra sao và uống trà như thế nào cho đúng kiểu. Nếu anh suy ngẫm đến nghi thức này khi ngồi trước mặt một tách trà ngon, ừ…nó giống một vở múa hay là một buổi thiền, được thực hiện trong khi đang quỳ gối. Trà được chế ra từ lá trà xay thành bột, rồi lọc vào trong nước sôi một hỗn hợp ga sủi bọt màu xanh lục mà chúng tôi gọi là matcha, thứ này rất xa lạ với người nước ngpài. Tôi xin nói trà giống như nước xà phòng màu xanh lục, có vị đắng, dùng lâu rất ngon.
Nghi thức uống trà là bộ môn quan trọng nhất trong việc luyện tập của geisha. Khi mở tiệc ở nhà riêng, thường thường người ta bắt đầu lễ uống trà gọn nhẹ. và khách đến xem múa hát theo mùa ở Gion đều được các geisha phục vụ trà trước tiên.
Cô giáo dạy môn phục vụ trà của chúng tôi là một cô gái khoảng 25 tuổi, cô ta là một geisha không thành đạt lắm, sau này tôi mới biết như thế; nhưng cô ta mê say môn nghi thức phục vụ trà, cho nên cô dạy môn này rất nhiệt tình, mỗi động tác của cô đều mang tính chất thiêng liêng. Vì cô ta nhiệt tình như thế nên tôi rất hâm mộ môn dạy của cô, và phải nói rằng đây là môn học hứng thú nhất trong cả buổi sáng. Ngay cả bây giờ, tôi vẫn còn thấy nghi thức uống trà thật dễ chịu khoan khoái như một giấc ngủ ngon.
Điều làm cho việc luyện tập của người geisha quá khó khăn không phải chỉ các môn nghệ thuật mà họ phải học không thôi, mà còn nhiều việc khác nữa, khiến cho cuộc sống của họ trở nên quá bận rộn. Sau khi học cả buổi sáng, nàng geisha còn phải làm việc ở nhà vào buổi chiều và buổi tối nữa. Mỗi đêm cô ta chỉ được ngủ từ ba đến năm giờ. Trong những năm luyện tập này, nếu tôi làm việc như thế thì cuộc sống của tôi quá ư bận rộn. Nếu Mẹ cho tôi khỏi làm việc lặt vặt như Bí Ngô thì tôi rất biết ơn, nhưng nghĩ đến chuyện bà đã đánh cuộc với Mameha tôi không tin bà nghĩ đến chuyện cho tôi có nhiều thì giờ để luyện tập. Một số công việc trong nhà của tôi đã được trao cho gia nhân, nhưng tôi cũng phải làm một số công việc khác, việc luyện tập đàn Shamisen chỉ được một giờ vào mỗi buổi chiều. Vào mùa đông, cả Bí Ngô và tôi phải luyện tập đôi bàn tay cho trơ cứng ra bằng cách ngâm vào nước đá cho đến khi hai tay đau nhức đến phát khóc mới thôi, rồi ra ngoài sân lạnh để thực hành. Nghe có vẻ độc ác quá nhưng hiệu quả đem lại thật tuyệt. Thực vậy, luyện tập cho hai bàn tay trơ cứng như thế này giúp tôi đàn được tốt hơn. Như anh biết đấy, sự lo sợ khi lên sân khấu làm cho hai bàn tay luống cuống, và khi anh đã tập đàn với hai bàn tay tê cóng, cứng ngắc quen rồi, đến khi lên sân khấu, sự lo sợ không còn là vấn đề đáng lo nữa.
Mới đầu Bí Ngô và tôi cùng tập đàn với nhau vào buổi chiều, ngay sau khi đã học đọc học viết thật lâu với bà Dì. Chúng tôi học chữ Nhật ngay từ khi tôi mới đến, và Dì luôn luôn bắt chúng tôi học hành nghiêm túc. Nhưng khi thực tập đàn vào buổi chiều, Bí Ngô và tôi có dịp vui đùa với nhau. Nếu chúng tôi cười to, Dì hay một gia nhân chạy đến la chúng tôi, nhưng khi chúng tôi nói chuyện nho nhỏ và vừa đàn vừa nói chuyện, chúng tôi đã có thì giờ bầu bạn với nhau rất là vui vẻ. Đây là lúc mà tôi mong mỏi nhất trong ngày.
Bỗng một buổi chiều trong khi Bí Ngô giúp tôi học kỹ thuật luyện âm thì Hatsumono xuất hiện trên hành lang trước mặt chúng tôi. Chúng tôi không nghe cô ta về nhà khi nào.
- Kìa, người coi như em út của Mameha! – cô ta nói với tôi, cô ta thêm hai từ “coi như” vì Mameha và tôi chưa chính thức chị em cho đến khi tôi bắt đầu thành geisha tập sự.
- Đáng ra tôi gọi cô là cô Bé Ngốc kìa – cô ta nói tiếp – nhưng sau khi tôi thấy cảnh hai đứa như thế này, tôi nghĩ nên để dành từ ấy cho Bí Ngô.
Bí Ngô hạ cây đàn xuống hai đùi chân, y như con chó cụp đuôi giữa hai chân, cô ta hỏi:
- Tôi làm gì sai trái à?
Tôi không dám nhìn vào mặt Hatsumono để thấy vẻ tức giận trên mặt cô ta ra sao. Tôi quá sợ những việc sắp xảy ra. Hatsumono nói:
- Không làm gì hết! Tôi chỉ không nhận ra cô là đồ cạn nghĩ mà thôi.
- Tôi xin lỗi, cô Hatsumono – Bí Ngô nói – Tôi chỉ muốn giúp Chiyo mà thôi.
- Nhưng Chiyo không cần cô giúp đỡ học đàn, nó sẽ tìm đến cô giáo của nó. Có phải đầu cô là quả bầu khổng lồ rỗng tuếch rồi không?
Nói xong Hatsumono véo mạnh vào môi Bí Ngô khiến cây đàn tuột khỏi tay cô, rơi xuống nơi chỗ cô ngồi trên hành lang gỗ, lăn xuống hành lang đất.
- Tôi cần nói chuyện với cô một chút – Hatsumono nói với cô ta – Cất đàn đi, tôi đứng chờ ở đây để cô khỏi làm những chuyện ngu ngốc nữa.
Khi Hatsumono nói xong, Bí Ngô bước xuống lượm cây đàn lên và tháo rời các bộ phận ra. Cô ta buồn bã nhìn tôi, tôi nghĩ chắc cô không sao. Nhưng bỗng nhiên tôi thấy môi cô run run, rồi cả mặt cô cũng rung động như mặt đất sắp bị động đất, và thình lình cô thả những bộ phận của cây đàn lên sàn gỗ, và đưa tay lên môi – môi đã bắt đầu sưng – trong khi nước mắt tuôn ra chảy dài xuống hai má. Mặt Hatsumono dịu lại như thể bầu trời đã hết giông tố, rồi cô quay qua nhìn tôi, mở miệng cười khoan khoái.
- Chắc cô sẽ có một người bạn khác – cô ta nói với tôi – sau khi Bí Ngô và tôi nói chuyện xong, cô ấy sẽ biết cách nói chuyện với cô, phải không Bí Ngô?
Bí Ngô gật đầu, vì cô ta chẳng còn lựa chọn nào khác hơn. Nhưng tôi thấy cô ta rất buồn. Không bao giờ chúng tôi thực tập đàn Shamisen với nhau nữa.
Tôi đem chuyện chạm trán này nói cho Mameha biết vào lần tôi đến nhà cô sau đó.
- Tôi mong cô ghi nhớ những lời Hatsumono nói với cô – Mameha nói với tôi – nếu Bí Ngô không nói gì với cô, cô cũng không nên nói gì với cô ta. Cô chỉ gây nên cho cô ta lắm chuyện rắc rối mà thôi. Vả lại, thế nào cô ta cũng nói lại cho Hatsumono nghe những gì cô nói.Trước đây cô tin tưởng cô ấy, nhưng bây giờ thì không được nữa.
Nghe thế tôi cảm thấy rất buồn, tôi im lặng một hồi lâu mới nói được.
- Sống trong nhà kỹ nữ với Hatsumono giống như con heo sống trong lò mổ.
Khi nói thế là tôi nghĩ đến Bí Ngô, nhưng chắc Mameha cho rằng tôi muốn nói về tôi, nên cô ấy đáp:
- Cô nói đúng. Cách đề phòng duy nhất của cô là phải làm sao để thành công hơn Hatsumono và loại cô ta ra.
- Nhưng ai cũng nói cô ta là geisha nổi tiếng nhất, em không tin em sẽ nổi tiếng hơn cô ấy.
- Tôi không nói nổi tiếng – Mameha đáp – Tôi nói thành công. Đi đến dự nhiều buổi tiệc không phải là vấn đề. Tôi sống trong căn hộ rộng rãi với hai người hầu, trong khi Hatsumono – có lẽ cô ta đi dự tiệc nhiều như tôi – cứ phải sống trong nhà kỹ nữ Nitta. Khi tôi nói thành công, tôi muốn nói geisha nào không sắm được toàn bộ áo kimono cho mình – hay cô nào không được nhà dạy kỹ nữ nhận làm con, điều này giống như điều trên – thì cô ta sẽ bị người khác điều khiển cả đời. Chắc cô đã thấy số áo kimono của tôi rồi? Cô có biết làm sao tôi có được số áo này không?
- Em nghĩ có lẽ cô đã được nhà kỹ nữ nào đấy nhận làm con trước khi cô chuyển đến nhà này.
- Tôi ở trong một nhà kỹ nữ cho đến một ngày cách đây năm năm. Nhưng bà chủ ở đấy có cô con gái bà sinh ra, nên bà ta không nhận người khác làm con.
- Vậy em xin phép hỏi, có phải cô đã mua toàn bộ áo kimono của cô không?
- Chiyo, làm sao cô nghĩ một geisha có thể mua nổi? Toàn bộ kimono không phải chỉ hai hay ba cái áo mặc trong mỗi mùa, đàn ông họ đi chơi khắp Gion, nếu họ thấy đêm nào mình cũng mặc áo giống nhau, họ sẽ đâm chán.
Chắc khi ấy tôi tỏ ra có vẻ hốt hoảng lắm, vì Mameha cười to khi nhìn thấy nét mặt của tôi - Vui lên Chiyo, để tôi trả lời rõ làm cho cô hết thắc mắc. Ông “danna” của tôi rất rộng rãi, ông ta đã mua cho tôi tất cả số áo ấy. Vì thế mà tôi thành công hơn Hatsumono. Nhiều năm rồi mà cô ta không có ông “danna” nào cả.
Tôi đã ở Gion khá lâu nên tôi hiểu rõ từ danna mà Mameha nói đến. Đây là từ một người vợ dùng để gọi chồng mình – hay đúng hơn là vào thời của tôi. Nhưng geisha nói đến danna của mình không phải nói đến chồng, geisha không lấy chồng, nếu không, họ không còn là geisha nữa.
Thỉnh thoảng sau khi dự tiệc có geisha, một số đàn ông cảm thấy chưa thỏa mãn cuộc vui, họ muốn đi xa hơn nữa. Có người muốn cùng nàng geisha đi đến những nơi như quận Myagawa-cho, đến đấy để họ đóng góp thêm mùi mồ hôi hôi hám vào những ngôi nhà dơ bẩn mà tôi đã thấy vào đêm tôi đến tìm chị tôi. Có ông bạo dạn trơ tráo hỏi nhỏ cô geisha ngồi bên cạnh về “giá cả” cô ta đòi hỏi. Những geisha hạ cấp có thể bằng lòng cách thu xếp như thế này, có lẽ họ sung sướng khi nhận thêm lợi tức của người đàn ông đề nghị. Người phụ nữ như thế nầy có thể tự cho mình là geisha và được ghi vào danh sách ở phòng đăng ký hộ tịch, nhưng tôi nghĩ anh nên nhìn vào cách cô ta múa, cách cô ta đàn, và khả năng hiểu biết của cô ta về nghi thức hầu trà trước khi anh quả quyết cô ta là geisha hay không. Một geisha thực thụ không bao giờ làm ô danh của mình bằng những cuộc hẹn hò với đàn ông đến những nơi không đứng đắn.
Tôi không quả quyết người geisha nào cũng đi theo đàn ông khi họ thấy ông ta hấp dẫn. Nhưng đi theo hay không là chuyện riêng của họ. Geisha cũng có những đam mê như mọi người, và họ cũng hành động sai lầm như mọi người. Người nào phạm phải sai lầm, họ chỉ còn cách hy vọng dấu giếm sao để người ta khỏi biết. Tiếng tăm của họ rất dễ bị ô uế, nhưng điều quan trọng hơn hết là nếu họ có một danna, họ lại càng phải cẩn thận hơn nữa. Điều đáng lo hơn hết là cô ta sẽ làm cho bà chủ nhà dạy kỹ nữ tức giận. Người geisha nào quyết tâm theo đuổi đam mê này đều có thể gặp nguy hiểm, nhưng có lẽ họ không làm thế để tiêu xài tiền bạc phung phí như tiền họ kiếm ra bằng con đường hợp pháp.
Cho nên anh biết không, người geisha bậc một hay bậc hai ở Gion đều không thể để cho bất kỳ ai mua một đêm. Nhưng nếu có một ông đứng đắn muốn được yêu đương tình tứ - không phải qua một đêm với nhau, mà gặp nhau trong một thời gian dài – và nếu ông ta bằng lòng với điều kiện thỏa đáng, thì geisha sẽ sung sướng chấp nhận đề nghị này. Họ vẫn tiếp tục đi dự tiệc hay dự cái gì thoảii mái, tự nhiên, nhưng thực sự tiền bạc ở Gion đều đến từ tay ông danna, và nàng geisha nào không có ông danna như Hatsumono – sẽ giống như con mèo hoang ngoài đường không có chủ nuôi ăn vậy.
Chắc anh nghĩ rằng một người đẹp như Hatsumono thế nào cũng có nhiều đàn ông đưa ra đề nghị làm danna cho cô ta, mà tôi biết đã có nhiều người muốn thế. Thực vậy, cô ta đã có danna một thời gan. Nhưng vì lý do gì đấy mà cô ta đã làm cho bà chủ phòng trà Mizuki quá tức giận – phòng trà này là nơi họat động chính của cô ta – đến nỗi có ông nào nhờ bà ta giới thiệu đều được bà ta trả lời là cô ta không xứng – có lẽ họ nghĩ cô ta đã có danna, mặc dù cô ta không có. Bất hòa với bà chủ, Hatsumono chỉ làm hại cho mình thôi chứ không làm ai thiệt hại hết. Là một geisha rất có tiếng, cô ta làm ra nhiều tiền khiến cho Mẹ sung sướng, nhưng geisha mà không có danna, cô ta không đủ sức để dành cho mình quyền độc lập và không dọn ra ở chỗ khác được. Cô ta cũng không thể đăng ký làm cho phòng trà khác để bà chủ ở các phòng trà này có cơ hội giúp cô ta tìm danna, không một bà chủ phòng trà nào muốn làm hỏng mối giao hảo với phòng trà Mizuki.
Dĩ nhiên lớp geisha hạng trung không bị kẹt vào thế khó xử như thế này. Nhưng họ có thể dùng thì giờ để ve vãn các ông, với hy vọng có người sẽ đưa ra lời yêu cầu bà chủ phòng trà giới thiệu các cô. Có nhiều người yêu cầu nhưng chẳng đến đâu, người này thì có tiền đầu tư quá ít, người khác lại ngần ngừ lẩn tránh khi các cô yêu cầu ông ta tặng cho cô chiếc kimono đắt giá để tỏ ra mình có thiện chí. Nhưng nếu sau vài tuần thương lượng mà được cả hai bên bằng lòng, cô geisha và người danna mới tổ chức một nghi lễ như nghi lễ hai geisha tổ chức làm chị em. Thông thường, mối ràng buộc này kéo dài sáu tháng hay lâu dài hơn, vì dĩ nhiên đàn ông thường mau chán. Các điều khoản trong cuộc ràng buộc này thường buộc anh chàng danna trả một phần nợ nần của nànggeisha và bao nhiêu thứ chi phí để mua đồ hóa trang, trả tiền học phí, và có thể cả tiền thuốc men khi bệnh hoạn nữa. Đại lọai là các thứ như thế, mặc dù đã tốn kém quá nhiều như thế rồi, nhưng ông ta vẫn tiếp tục trả tiền công phục vụ của cô ta tính theo giờ, bất cứ khi nào ông ta giải trí với cô, y như những khách hàng khác vậy. Nhưng ông ta sẽ được hưởng một vài “đặc quyền”.
Đây là những thỏa thuận đôi với giới geisha trung bình. Còn đôi với geisha siêu đẳng, loại này ở Gion có chừng 30 hay 40 cô, thì nguyên tắc thỏa thuận còn nhiều hơn nữa. Trước hết là nàng geisha không muốn làm lu mờ danh tiếng vì có nhiều danna, nhưng có thể có một hay hai trong suốt cả đời. Người danna không những chỉ bao hết những chi phí của cô ta, như là phí đăng ký, phí học tập và ăn uống hàng ngày, mà còn bao nhiêu thứ khác nữa. Ông ta phải cung cấp tiền cho cô ta, bảo trợ những buổi múa trình diễn có cô ta tham gia, mua kimono và nữ trang làm quà tặng cho cô ta. Và khi ông ta giải trí với cô ta, ông ta không phải trả phí tổn tính hàng giờ như thường lệ, có lẽ ông ta còn trả nhiều hơn thế, như là một cử chỉ khích lệ.
Mameha có lẽ là một trong những geisha siêu đẳng này. Quả vậy, theo chỗ tôi biết, cô ta là một trong số hai ba geisha nổi tiếng nhất của Nhật. Chắc anh đã nghe danh tiếng của nàng geisha Mametsuki rồi. Nàng là người đã dan díu với thủ tướng Nhật một thời gian ngắn trước Đệ nhất thế chiến và đã gây ra nhiều tai tiếng. Bà ta là chị cả của Mameha – vì thế mà cả hai đều có từ “Mame” trước tên của họ. Thông thường thì người geisha em có tên xuất phát từ tên của người chị cả.
Có người chị cả như Mametsuki đủ để cho Mameha thành công trong nghề. Vào đầu những năm 1920, phòng du lịch Nhật bản bắt đầu chiến dịch quảng cáo khắp thế giới. Những tấm bích chương in hình ngôi chùa ở đên Joji nằm ở phía đông nam Kyoto, một bên chùa là cây anh đào, và phía bên kia là hình cô geisha tập sự xinh đẹp, trông cô ta rất e lệ, duyên dáng và thanh lịch. Cô geisha tập sự ấy là Mameha.
Chỉ nói Mameha nổi tiếng là chưa nói hết về cô ta. Những tấm bích chương trưng bày ở các thành phố khắp thế giới với hàng chữ “Mời đến thăm xứ mặt trờii mọc” được in bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài – không những chỉ tiếng Anh mà còn Đức, Pháp, Nga. Lúc ấy Mameha chỉ mới 16 tuổi, nhưng bỗng nhiên cô được mời đến để gặp các nguyên thủ quốc gia đến thăm Nhật, và các nhà quý tộc ở Anh hay Đức, và các nhà triệu phú từ Hoa kỳ đến. Cô ấy đã chuốc rượu sake cho đại văn hào Đức Thomas Mann, ông này sau đó đã kể cho cô nghe một câu chuyện dài, buồn, thông qua người phiên dịch gần suốt một giờ, cũng như rót rượu cho Charlie Chaplin và Tôn Dật Tiên, và sau này cho Ernest Hemingway, nhà văn này đã say và nói rằng đôi môi đỏ đẹp đẽ trên khuôn mặt trắng của cô làm cho ông ta nghĩ đến máu trên tuyết. Từ đó về sau, Mameha nổi tiếng thêm như diễn một số vở mu’a được đại đa số quần chúng ưa thích trên sân khấu nhà hát Kabukiza ở Tokyo, nơi thường được thủ tướng và nhiều nhân vật danh tiếng đến xem.
Khi Mameha tuyên bố cô có ý nhân tôi làm em út, tôi chưa biết những chuyện này về cô. Nếu biết, chắc thế nào tôi cũng quá lo sợ, không làm gì được ngoài việc run lên khi đứng trước mặt cô.
Mameha đã rất tế nhị với tôi, cô bảo tôi ngồi xuống và giảng giải cho tôi nghe chuyện này vào hôm tôi đến nhà cô. Khi thấy tôi hiểu, cô hài lòng nói:
- Theo ngày bắt đầu nhập môn của cô, cô sẽ thành geisha tập sự cho đến năm 18 tuổi. Sau đó cô cần phải có danna nếu cô muốn trả nợ. Một danna rất giàu. Công việc của tôi là làm sao cho cô nổi tiếng ở Gion, nhưng cô phải nỗ lực học tập sao cho thành vũ công thành thạo. Nếu cô không đạt được xếp hạng tối thiểu là thứ năm vào năm 16 tuổi, thì tôi không thể làm gì giúp cô được và bà Nitta sẽ rằng vui sướng khi thắng cuộc với tôi.
- Nhưng thưa cô Mameha, em không hiểu múa để làm gì.
- Múa là thứ cần thiết vô cùng, nếu cô nhìn vào những geisha thành công nhất ở Gion, họ đều là những vũ công hết.
Múa là môn nghệ thuật được trọng vọng nhất trong các môn nghệ thuật của giới geisha. Chỉ có những geisha xinh đẹp và nhiều hứa hẹn nhất mới được khích lệ để học chuyên sâu vào bộ môn này, và không có bộ môn nào ngoài nghệ thuật pha trà có thể so sánh được với tính phong phú của môn cổ truyền này. Trường múa Inoue, nơi giới geisha ở Gion thực tập, bắt nguồn từ nhà hát Noh. Vì Noh là nơi nghệ thuật rất xưa luôn luôn được hòang gia bảo trợ, vũ công ở Gion xem nghệ thuật của họ hơn trường múa ở quận Ponto-cho nằm bên kia sông. Nghệ thuật của trường này bắt nguồn từ nhà hát Kabuki. Bấy giờ tôi rất hâm mộ nghệ thuật Kabuki, và thực tế tôi may mắn có một số bạn bè là nghệ sĩ Kabuki danh tiếng của thế kỷ này. Nhưng Kabuki là một thể nghệ thuật còn tương đối mới mẻ, trước những năm 1970, bộ môn này chưa có, và Kabuki được giới bình dân ưa chuộng chứ không được hòang gia bảo trợ, không đơn giản so sánh vũ ở Ponto-cho với trường Inoue ở Giion được.
Tất cả các geisha tập sự phải học múa, nhưng như tôi đã nói, chỉ có những geisha xinh đẹp và đầy hứa hẹn mới được khích lệ để học chuyên sâu và tiếp tục để trở thành vũ công thật sự, chứ không phải như người học đàn Shamisen hay là ca sĩ. Rủi thay cho Bí Ngô, vì lý do có khuôn mặt tròn, bẹt nên phải chú tâm vào đàn Shamisen, vì cô không được chọn làm vũ công. Còn tôi, tôi không phải quá đẹp đến nỗi đương nhiên được học múa, như Hatsumono. Tôi nghĩ rằng tôi được trở thành vũ công chỉ là nhờ tôi đã tỏ cho các giáo viên thấy rằng tôi sẵn lòng làm việc cật lực khi cần.
Tuy nhiên chính nhờ Hatsumono mà bước đầu tiên học múa của tôi tránh được những điều tệ hại. Cô giáo dạy múa khoảng 50 tuổi, chúng tôi thường gọi là cô giáo Bướu vì cô có một cái bướu nhỏ dưới cằm. Cô giáo Bướu rất ghét Hatsumono, Hatsumono biết rõ điều này, và anh có biết cô ta làm gì không? Cô ta đến gặp cô giáo – tôi biết điều này vì mấy năm sau cô Bướu nói cho tôi nghe – và nói:
- Thưa cô giáo, cô làm ơn giúp tôi một việc được không? Tôi có để ý đến một học viên trong lớp cô. Tôi thấy học viên này có vẻ có tài năng. Nếu cô giáo cho tôi biết cô nghĩ sao về cô ta, tôi sẽ hết sức biết ơn cô. Tên cô ta là Chiyo, vàtôi rất rất thích cô ta. Tôi sẽ mang ơn cô nhiều nếu cô tận tình giúp ỡ cô ấy.
Hatsumono không cần nói thêm một lần nào nữa, vì cô giáo Bướu đã “tận tình giúp đỡ” như lời Hatsumono yêu cầu. Thật tình tôi múa không tệ, nhưng cô Bướu lập tức đem tôi ra làm ví dụ điển hình về những việc “không” được làm. Tôi nhớ một buổi sáng khi cô giáo biểu diễn một điệu múa bằng cách kéo cánh tay quanh thân hình như thế này, rồi dậm một chân lên chiếu. Tất cả chúng tôi đều bắt chước làm theo, nhưng vì chúng tôi mới bắt đầu học, nên khi chúng tôi dậm chân, tiếng dậm vang lên như một đĩa đầy đậu văng tung tóe lên nền nhà, vì các học viên dậm chân không cùng một lượt. Tôi cam đoan với anh tôi dậm không tệ hơn các cô khác, nhưng cô Bướu đến đứng ngay trước mặt tôi, cục bướu dưới cằm cô rung rung, cô nhịp cái quạt xếp lên đùi mấy lần rồi vung tay đánh cái quạt lên một bên đầu tôi.
- Chúng ta không dậm chân như thế - cô nói – và chúng ta không nhăn cằm.
Trong các điệu vũ của trường Inoue, mặt của vũ công phải giữ cho thật hoàn hảo, vô cảm như đeo mặt nạ trong kịch Noh. Nhưng cô giáo mắng tôi vì tội nhăn cằm trong khi cằm của tôi run lên vì tức giận, tôi như sắp khóc vì bị cô đánh thì bỗng các học viên khác phá ra cười. Cô giáo Bướu khiển trách tôi vì tội làm cho học trò cười, cô phạt đuổi tôi ra khỏi lớp.
Tôi không thể nói thân phận tôi sẽ ra sao dưới sự chăm sóc cẩn thận của cô giáo, nếu sau đó Mameha không đến nói chuyện với cô và giúp cô khám phá sự thật đã xảy ra. Tuy nhiên, tôi nghĩ cô Bướu trước đó đã ghét Hatsumono rồi, bây giờ sau khi biết cô ta đã lừa phỉnh mình, chắc cô còn ghét nhiều hơn nữa. Tôi sung sướng nói rằng cô giáo ân hận kinh khủng về cách cô đã đối xử với tôi, đến nỗi sau đó tôi đã trở thành cô học trò cô thích nhất.
Tôi xin nói là tôi không có thiên tài về bất kỳ môn gì hết, nhưng tôi có quyết tâm cao, làm việc với mục đích rõ ràng, cho đến khi tôi đạt được mục đích mới thôi. Từ ngày tôi gặp ông Chủ tịch vào mùa xuân, tôi chỉ ước mong sao tôi có được cơ may để trở thành geisha, tìm được chỗ đứng trong cuộc đời. Nay Mameha cho tôi cơ may này, tôi phải quyết tâm làm việc cho thật tốt. Nhưng vì học hành nhiều mà lại còn làm việc nhà với yêu cầu cao, cho nên tôi cảm thấy quá mệt trong sáu tháng luyện tập đầu tiên. Rồi sau đó tôi nghĩ ra cách để cho công việc dễ dàng hơn. Ví dụ tôi tìm các luyện tập đàn Shamisen trong khi đi làm các việc lặt vặt. Tôi vừa hát trong óc vừa làm những động tác đàn, tôi hình dung ra bàn tay trái di chuyển trên cổ đàn ra sao, và gảy cái gảy đàn vào dây như thế nào. Nhờ thế mà khi tôi ôm đàn vào lòng, là tôi đàn được một ca khúc trơn tru mặc dù trước đó tôi mới tập được một lần mà thôi. Có người tưởng tôi học mà không thực tập, thực ra tôi đã thực tập khi đi trên các nẻo đường ở Gion.
Tôi đã dùng một trò mánh lới khác để học các dân ca và các ca khúc khác mà chúng tôi đã học ở trường. Lúc còn thơ ấu, tôi thường chỉ cần nghe hát một lần là hôm sau tôi nhớ ngay. Tôi không biết tại sao, tôi đóan chắc trí óc tôi minh mẫn. Cho nên tôi viết lời ca lên một tờ giấy trước khi đi ngủ, rồi mỗi khi thức giấc, trong khi trí óc tôi còn sáng suốt, tôi đọc tờ giấy trước khi trở mình trên nệm. Thường như thế là đủ cho tôi nhớ, nhưng với âm nhạc thì khó khăn hơn, tôi bèn dùng mánh là nghĩ ra hình ảnh nào nhắc tôi nhớ đến âm thanh ấy. Ví dụ cành cây rơi từ trên cao xuống làm cho tôi nghĩ đến tiếng trống, hay là dòng suối chảy trên đá nhắc tôi nhớ đến động tác căng sợi dây đàn để nốt nhạc cao lên, và tôi hình dung ra bài ca như là một cuộc dạo chơi ngắm cảnh.
Nhưng dĩ nhiên bộ môn thách thức nhất, và quan trọng nhất đôi với tôi là múa. Nhiều tháng trời, tôi đã thử áp dụng các mánh lới tôi đã tìm ra, nhưng các phương pháp này không giúp gì được. Rồi một hôm bà Dì nổi giận khi tôi làm bắn nước trà lên tờ tạp chí bà đang đọc. Điều kỳ lạ là tôi nghĩ tốt về bà trong khi bà quắc mắt nhìn tôi. Sau đó tôi cảm thấy buồn da diết và tôi nghĩ đến chị tôi, hiện đang ở đâu đó trên nước Nhật mà không có tôi, và tôi nghĩ đến mẹ tôi, tôi hy vọng là bà được bình an ở trên thiên giới, và tôi nghĩ đến bố tôi, người sẵn lòng bán chúng tôi để sống cô độc cho đến hết đời. Khi những ý nghĩ này hiện ra trong óc tôi, cơ thể tôi trở nên nặng nề. Cho nên tôi leo lên lầu, về phòng Bí Ngô và nằm ngủ - vì Mẹ đã chuyển tôi lên đấy sau khi Mameha đến thăm nhà kỹ nữ của chúng tôi. Thay vì nằm xuống nệm rơm và khóc, tôi di chuyển cánh tay theo cách biểu lộ trạng thái khóc qua ngực. Tôi không biết tại sao tôi làm thế, đấy là một động tác trong bài học múa sáng nay, một động tác tôi thấy rất buồn. Lúc ấy tôi liền nghĩ đến ông Chủ tịch và tôi nghĩ đời tôi sẽ vô cùng hạnh phúc nếu tôi được sửa túi nâng khăn cho một người như thế. Khi tôi nhìn cánh tay tôi quét qua không khí, chuyển động dịu dàng của cánh tay như muốn biểu lộ cảm giác buồn bã và ham muốn. Cánh tay tôi lướt qua không khí với sự chuyển động rất đường hoàng – không phải như chiếc lá rung rinh trên cành cây, mà như chiếc tàu thủy lướt trên mặt biển. Tôi nghĩ sự chuyển động “đường hoàng” là vì tôi muốn nói đến lòng tự tin, hay là tin tưởng, tôi tin rằng gió táp mưa sa gì cũng không làm thay đổi được hòan cảnh của tôi.
Điều mà tôi đã khám phá ra chiều hôm đó, là khi cơ thể tôi cảm thấy nặng nề, tôi di chuyển với thái độ rất đường hoàng. Và nếu tôi tưởng tượng ra ông Chủ tịch đang nhìn tôi, các cử động của tôi đã để lộ ra một ý nghĩ sâu xa, cho thấy rằng thỉnh thoảng mỗi chuyển động trong khi múa là một thứ ngôn ngữ giao tiếp với ông. Khi quay người đầu nghiêng về một bên là ý muốn hỏi “Ông Chủ tịch ơi, chúng ta sẽ ở bên nhau cả ngày ở đâu?” Duỗi cánh tay ra và quạt, là nói lên lòng biết ơn bao la của tôi khi ông ban cho tôi cái vinh dự được đến thăm công ti của ông. Rồi sau đó khi tôi khép quạt lại trong vở múa, đấy là lúc tôi nói với ông rằng trên đời này đôi với tôi không có gì quan trọng bằng việc làm cho ông hài lòng.
Một buổi chiều khi Mameha và tôi đi qua cầu đại lộ Shijo để mua đồ nữ trang cài tóc ở quận Pontocho – vì Mameha không thích các cửa hàng bán nữ trang ở Gion – bỗng cô ấy dừng lại. Dướiầu, một chiếc thuyền máy cũ kỹ đang phì phạch chạy qua, tôi tưởng Mameha muốn dừng lại để tránh khói đen nơi chiếc tàu phun ra, nhưng sau một lát cô ấy quay qua nhìn tôi với vẻ mặt thật khó hiểu.
- Có chuyện gì, chị Mameha? – tôi hỏi.
- Tôi phải nói cho cô nghe chuyện này, vì cô chỉ nghe người ngoài nhà cô nói cho biết thôi – cô ấy đáp – Cô bạn Bí Ngô của cô vừa nhận được phần thưởng dành cho geisha tập sự. Người ta còn nghĩ chắc cô ấy sẽ được nhận lần thứ hai nữa.
Mameha muốn nói đến phần thưởng dành cho người tập sự đạt thành tích cao nhất trong tháng trước. Bày ra phần thưởng như thế cũng kỳ lạ thật, nhưng có lý do rất tốt. Việc khuyến khích các cô tập sự đạt thành tích cao như thế là giúp họ đi vào khuôn phép của người geisha sẽ được đánh gía cao nhất ở Gion – nghĩa là, những người kiếm ra lợi tức nhiều không những cho họ thôi mà còn cho mọi người nữa.
Nhiều lần, Mameha đã tiên đoán là Bí Ngô phải phấn đấu vài năm mới thành được nàng geisha chỉ có khách tạm bợ và xoàng xỉnh, không có khách giàu có. Đây là chuyện tương lai đáng buồn, và tôi vui mừng khi nghe Bí Ngô đã phấn đấu tốt hơn thế. Nhưng đồng thời tôi cũng cảm thấy xót xa trong dạ, Bí Ngô đã thành geisha tập sự giỏi nhất ở Gion rồi, trong khi đó tôi vẫn còn chìm trong bóng tối. Khi tôi tự hỏi không biết tương lai của tôi sẽ ra sao, cảnh vật chung quanh bỗng trở nên ủ dột buồn rầu.
Tôi đứng yên trên cầu, nghĩ đến chuyện thành công của Bí Ngô, và điều làm cho tôi ngạc nhiên nhất, là cô ta đã xoay sở để vượt lên trên cô gái duyên dáng có tên là Raiha, cô này đã đạt được phần thưởng vào những tháng trước đây. Mẹ của Raiha là một geisha nổi tiếng và bố cô ta là con một gia đình có tiếng tăm nhất nước Nhật, giàu nứt đố đổ vách. Mỗi khi Raiha đi qua trước mặt tôi, tôi cảm thấy mình như tôm như tép, còn cô ta như cá kình cá ngạc. Làm sao Bí Ngô loại bỏ cô ta ra được? Có lẽ Hatsumono đã thúc đẩy cô ta phấn đấu ngay từ ngày mới nhập môn, thúc đẩy quá sức đến nỗi gần đây cô ta gầy đi, mặt mày hốc hác. Nhưng cho dù Bí Ngô có cố gắng đến đâu đi nữa, làm sao cô ta nổi tiếng hơn Raiha được?
- Này, này, thôi đi – Mameha nói – đừng buồn rầu như thế. Đáng ra cô phải vui mới phải.
- Dạ phải, em ích kỷ quá – tôi đáp.
- Tôi không muốn nói như thế đâu. Hatsumono và Bí Ngô sẽ trả giá rất đắt cho phần thưởng học viên này. Trong vòng năm năm nữa, sẽ chẳng ai nhớ Bí Ngô là ai hết.
- Theo em, mọi người sẽ nhớ vì cô ta đã vượt qua Raiha.
- Không ai vượt qua Raiha hết. Có thể Bí Ngô đã kiếm được nhiều tiền trong tháng qua, nhưng Raiha vẫn là người học viên giỏi nhất ở đây. Đến đây, tôi sẽ giải thích cho cô nghe.
Mameha dẫn tôi vào phòng trà ở Pontocho và bảo tôi ngồi xuống.
Mameha nói:
- Ở Gion, người geisha nổi tiếng nhất thường làm sao để đảm bảo cô em út của mình kiếm được tiền nhiều hơn người khác – nếu cô ta dám liều để phạm đến danh tiếng của mình. Lý do khiến cho họ có thể mang tiếng là đã viết nhiều hóa đơn các Ohana, tức là lệ phí chơi hoa. Ngày xưa, cách đây khỏang 100 năm, mỗi lần nàng geisha đến một buổi tiệc để giúp vui, bà chủ phòng trà đốt một que nhang lâu một giờ - gọi là một Ohana, hay là “hoa”. Lệ phí cho geisha tính trên số bao nhiêu que nhang đã đốt cháy khi cô ta ra về.
Giá tiền một Ohana thường do văn phòng đăng ký hộ tịch Gion ấn định. Trong thời gian tôi làm tập sự, giá ấy là 3 yen, nghĩa là giá bằng 2 chai rượu. Nghe ra có vẻ nhiều, nhưng một geisha không nổi tiếng kiếm một giờ một Ohana, thì cuộc sống rất khó khăn. Có lẽ cô ta ngồi cả buổi tối bên lò than để đợi người hẹn, thậm chí khi cô ta đắt khách đi nữa, cô ta cũng không kiếm được mỗi đêm quá 10 yen, với số tiền kiếm ra như thế cô ta không làm sao có đủ để trả nợ. Trong khi tiền bạc đổ vào Gion như nước, cô ta chỉ như con sâu rúc rỉa bộ xương thú – so với Hatsumono và Mameha, hai người này dường như những con sư tử đánh chén khi mới hạ con thú, không những vì họ đêm nào cũng có người hẹn suốt đêm, mà họ còn tính tiền rất cao nữa. Trường hợp Hatsumono, cô ta tính một Ohana chỉ trong 15 phút chứ không phải một giờ, còn Mameha…Ồ, không có ai ở Gion giống cô ấy hết, cô ấy tính một Ohana chỉ trong năm phút thôi.
Dĩ nhiên không có cô geisha nào hưởng hết số tiền mình kiếm được, ngay cả Mameha cũng không. Phòng trà nơi cô ta kiếm ra tiền hưởng một phần, rồi một phần nhỏ hơn nộp cho hội geisha, và một phần trả cho người thợ may, và một phần cho hệ thống điều hành, kể cả lệ phí phải trả cho nhà kỹ nữ nào lo việc sổ sách cho cô ta và giới thiệu khách hò hẹn. Có lẽ cô ta chỉ còn giữ lại chừng hơn một nửa số tiền mình kiếm được. Thế nhưng nếu đem so với một geisha không nổii tiếng thì đây là cả một số tiền lớn, người geisha không nổi tiếng, sẽ bám sâu dần vào cái hố tối tăm của cuộc sống.
Còn sau đây là cách thức một geisha như Hatsumono có thể làm cho người em út có vẻ thành công hơn thực chất của cô ta.
Thoạt tiên, nàng geisha nổi tiếng ở Gion được đón tiếp nồng hậu ở khắp các buổi tiệc, và họ chỉ ghé lại các nơi trong vòng 5 phút mà thôi. Khách của cô ta vẫn sung sướng trả phí tổn, mặc dù cô ta chỉ chào hỏi rồi đi. Họ biết lần sau họ đến Gion, cô ta sẽ cùng ngồi với họ lâu hơn, làm cho họ được thích thú hơn. Trái lại, người tập sự không thể bỏ đi tùy tiện như thế. Vai trò của họ là thiết lập mối dây liên hệ. Cho đến khi họ trở thành geisha thành thạo vào năm 18 tuổi, họ không được đi từ tiệc này sang tiệc khác nhiều nơi. Nhưng họ phải ở lại lâu hơn một giờ, và chỉ điện thoại về cho nhà kỹ nữ của mình để hỏi người chị cả ở đâu, rồi cô ta đến phòng trà khác để được giới thiệu với khách mới khác. Trong khi người chị có thể ghé vào 20 nơi có tiệc trong một đêm, thì cô tập sự chỉ ghé được không quá 5 nơi. Nhưng Hatsumono không làm theo quy tắc này, cô ta đi đâu là dẫn Bí Ngô đi theo đấy.
Cho đến khi được 16 tuổi, người geisha tập sự tính nửa Ohana một giờ. Nếu Bí Ngô ở tại chỗ tiệc nào chỉ 5 phút thôi, bà chủ vẫn ghi vào hóa đơn số tiền giống như cô ta đã ở đấy một giờ tròn. Ngoài ra, không ai nghĩ đến chuyện Bí Ngô chỉ ở tại đó có 5 phút. Có lẽ các ông cho qua chuyện Hatsumono đem cô em út đến dự trong chốc látmột đêm, hay hai đêm là cùng. Nhưng sau một thời gian, chắc thế nào họ cũng thắc mắc tại sao cô ta quá bận đến nỗi không ở lại lâu được, và tại sao cô em út không ở lại như nhiệm vụ yêu cầu cô ta phải làm thế. Lợi tức của Bí Ngô có thể cao – có lẽ cao đến ba hay bốn Ohana trong một giờ, nhưng thế nào cô ta cũng phải trả giá về tai tiếng của mình, và Hatsumono cũng thế.
- Hành động của Hatsumono như thế thật quá liều lĩnh – Mameha kết luận – cô ta làm thế chỉ hại cho Bí Ngô thôi. Và chắc cô biết lý do tại sao cô ta làm thế, phải không?
- Em không biết, chị Mameha à.
- Cô ta muốn Bí Ngô có uy tín để bà Nitta nhận làm con nuôi. Nếu Bí Ngô được nhận làm con nuôi, tương lai của cô ta sẽ được đảm bảo, và tương lai của Hatsumono cũng vậy. Nói tóm lại, Hatsumono là chị của Bí Ngô, bà Nitta chắc không đuổi cô ta ra khỏi nhà. Cô có hiểu những điều tôi nói không? Nếu Bí Ngô được nhận làm con, cô sẽ không bao giờ thoát nợ Hatsumono, trừ phi chính cô là người bị tống cổ đi.
Tôi cảm thấy lạnh người như sóng biển bị mây che hết ánh mặt trời.
- Cho nên tôi mong sao cô thành người tập sự nổi tiếng sớm – Mameha nói tiếp – nhưng chắc có lẽ Hatsumono cản đường chúng ta rất nhiều.
- Dạ phải, cô ta sẽ làm thế!
- Mà thôi, không lo, ít ra cô đã biết cách làm cho đàn ông vui rồi. Cô may mắn đã gặp ông Nam tước, không biết Hatsumono đã biết chuyện này chưa, nhưng nói thật ra – nói đến đây bỗng cô ấy dừng lại.
- Thưa cô sao ạ?
- Ồ thôi, Sayuri, không sao. Tôi quả điên khi nói thật cho cô nghe.
Tôi rất buồn khi nghe cô ấy nói thế. Có lẽ Mameha đã nhận ra tâm trạng của tôi cho nên cô ấy nói tiếp:
- Cô sống cùng nhà với Hatsumono phải không? Bất cứ tôi nói cho cô nghe cái gì, cô ta cũng có thể biết.
- Thưa chị Mameha, nếu em có cái gì khiến cho chị nghi ngờ như thế, thì xin chị tha lỗi cho. Chị có thể tin rằng khi em về nhà, em kể hết các chuyện cho Hatsumono nghe sao?
- Tôi không lo chuyện cô sẽ làm như thế. Con chuột không bị mèo ăn thịt vì khí nó chạy qua chỗ mèo ngủ và đánh thức mèo dậy. Chắc cô biết Hatsumono có tài xoay sở ra sao rồi, Sayuri, cô phải tin tôi đi.
- Vâng thưa chị - tôi không còn biết phải đáp ra làm sao nữa.
- Tôi sẽ nói cho cô biết một chuyện – Mameha nói, nghiêng người tới một chút, tôi rất kinh ngạc khi thấy cô ấy làm thế - Tôi và cô sẽ đến một nơi hẹn trong hai tuần nữa tại một nơi mà Hatsumono không tìm ra được.
- Em xin hỏi ở đâu được không?
- Không được! Thậm chí tôi sẽ không nói cho cô biết khi nào nữa. Chỉ chuẩn bị tinh thần thôi. Khi đến lúc, cô sẽ biết những gì cô muốn.
Chiều ấy khi trở về nhà, tôi trốn lên lầu để xem niên lịch. Trong hai tuần sắp đến có nhiều ngày tốt để xuất hành. Một ngày đúng vào thứ tư sắp đến, ngày này hợp cho việc đi về phía Tây, có lẽ Mameha có kế hoạch đưa tôi đi khỏi thành phố. Ngày khác đúng vào thứ hai tiếp theo đó, ngày này đúng vào dịp Đại An – ngày tốt nhất trong tuần sáu ngày của đạo Phật. Cuối cùng, ngày chủ nhật kế tiếp, lịch có ghi một đọan rất lạ lùng “Sự quân bình giữa cái tốt và cái xấu sẽ mở cửa số phận”, câu này nghe hấp dẫn hơn cả.
Vào ngày thứ tư, tôi không nghe tin gì của Mameha hết. Mấy ngày sau, cô ấy gọi tôi đến nhà cô – vào ngày cuốn lịch của tôi nói là ngày xấu. Nhưng chỉ có bàn thảo về sự thay đổi trong lớp dạy nghi thức phục vụ trà ở trường. Sau đó, suốt cả một tuần trôi qua tôi không nhận được tin tức gì của cô ấy hết. Rồi vào trưa ngày chủ nhật, tôi nghe cửa nhà kỹ nữ mở ra, tôi để đàn xuống trên hành lang gỗ, nơi tôi đã tập đàn khỏang một giờ rồi và chạy ra cửa. Tôi tưởng sẽ gặp chị người hầu của Mameha, nhưng đấy là người ở tiệm thuốc Bắc mang thuốc đến cho bà Dì chữa bệnh thấp khớp. Sau khi người hầu lớn tuổi của chúng tôi lấy gói thuốc, tôi định trở lại với cây đàn Shamisen thì bỗng tôi chú ý thấy anh chàng giao thuốc có ý muốn nói chuyện với tôi. Anh ta nắm trên tay miếng giấy, nhưng có ý chỉ muốn để cho mình tôi thấy nó thôi. Chị hầu định kéo cửa đóng lại, nhưng anh ta nói với tôi:
- Thưa cô, tôi xin lỗi làm phiền cô, cô làm ơn ném miếng giấy này giúp tôi được không? – chị hầu thấy việc này có vẻ kỳ quặc, nhưng tôi đã lấy miếng giấy, giả vờ ném vào phòng gia nhân. Tờ giấy có ghi lời nhắn, không ký tên nhưng đúng nét chữ của Mameha “Xin phép bà Dì mà đi. Nói với bà tôi có việc nhờ cô làm giúp ở nhà tôi và đến gấp trong vòng không quá một giờ. Đừng để cho ai biết cô đi đâu”.
Tôi nghĩ Mameha cẩn thận như thế này là rất tế nhị, nhưng dù sao thì hiện bà Mẹ đang ăn cơm trưa với một người bạn, còn Hatsumono và Bí Ngô đã đi đến điểm hẹn buổi chiều rồi. Trong nhà chỉ còn bà Dì và gia nhân. Tôi lên phòng Dì, thấy Dì đang trải tấm vải dày lên nệm để ngủ trưa. Trong khi tôi nói, bà đứng run run trong chiếc áo ngủ. Khi nghe Mameha gọi tôi, bà không hỏi đến để làm gì. Bà chỉ vẫy tay cho phép tôi đi, rồi chui vào dưới chăn để ngủ.
Khi tôi đến nhà Mameha, cô ấy bận đi đến điểm hẹn buổi sáng chưa về, nhưng chị hầu đưa tôi vào phòng thay áo quần để làm hóa trang, rồi sau đó mang bộ kimono đã soạn sẵn cho tôi. Tôi đã quen cảnh mặc kimono của Mameha, nhưng đây là chuyện hy hữu, vì ít có người geisha nào cho mượn áo của mình như thế. Hai người bạn ở Gion có thể đổi áo cho nhau trong một vài đêm, nhưng hiếm khi một geisha có lòng tốt với em út như thế này. Quả vậy, Mameha rất mất công vì tôi, cô ấy không mặc những cái áo có tay dài như thế này, cô phải lấy áo từ nhà kho cho tôi. Tôi tự hỏi không biết cô ấy có nghĩ đến chuyện đòi trả lui hay không.
Chiếc kimono cô soạn ra cho tôi hôm ấy là chiếc áo đẹp nhất – áo bằng lụa màu vàng cam in hình thác nước màu bạc chảy từ đầu gối xuống đến mặt biển xanh ngắt. Cái thác tuôn ra từ mõm núi đá có màu nâu, dưới chân núi đá là cánh rừng thấp nhỏ được thêu bằng chỉ màu. Tôi không biết, nhưng chiếc áo này mọi người ở Gion đều biết, người ta nhìn chiếc áo, có lẽ họ sẽ nghĩ đến Mameha. Tôi nghĩ rằng khi cho phép tôi mặc áo này, chắc cô ấy muốn truyền cái tinh hoa của mình sang cho tôi.
Sau khi ông Itchoda buộc dải thắt lưng cho tôi – dải màu gạch và nâu đậm có điểm chỉ vàng – tôi sửa lại mặt hóa trang lần cuối và cài nữ trang lên tóc. Tôi nhét cái khăn tay của ông Chủtịch – tôi thường mang theo mỗi khi rời nhà – vào dải thắt lưng, rồi đứng soi trước gương lớn. Tôi há hốc mồm kinh ngạc. Tôi quá kinh ngạc khi nghĩ đến chuyện Mameha có ý đồ biến tôi thành người quá đẹp như thế này, nhưng khi cô ấy về đến nhà, cô ấy còn làm tăng thêm vẻ đẹp của tôi lên nữa bằng cách cô thay cho mình chiếc áo kimono bình dị xinh xắn. Cái áo có màu khoai mì, phủ những đường sọc màu xám nhạt, còn dải thắt lưng có hình những viên kim cương màu đen giản dị trên nền màu xanh đậm. Cô ấy có nét đẹp kín đáo của viên ngọc trai như mọi khi, nhưng lúc chúng tôi ra đường, các phụ nữ cúi chào Mameha đều đưa mắt nhìn tôi.
Từ đền thần ở Gion, chúng tôi đi xe kéo theo hướng Bắc chừng nửa giờ, đến một khu vực của Kyoto mà tôi chưa hề biết. Trên đường đi, Mameha nói cho tôi biết chúng tôi đến dự buổi biểu diễn đô vật, chúng tôi xem như khách của ông Iwamura Ken, người sáng lập ra Công thấy sản xuất đồ điện Iwamura ở Osaka – công ty đã sản xuất lò sưởi điện làm chết bà ngoại. Cánh tay phải của ông Iwamura là ông Nobu Toshisazu, ông này làm quản lý cho công ty cũng đến dự. Nobu là người hâm mộ môn đô vật và đã tiếp tay giúp tổ chức buổi biểu diễn chiều hôm ấy.
- Tôi báo trước cho cô biết – cô ấy nói với tôi – cái ông Nobu ấy…trông đặc biệt lắm. Khi gặp ông ta, cô phải cư xử sao để gây ấn tượng với ông ta – nói xong, cô ấy nhìn tôi như muốn nói rằng nếu tôi không làm được như thế, cô ấy sẽ hết sức thất vọng.
Còn về việc Hatsumono, chúng tôi khỏi lo, vì vé vào xem cuộc biểu diễn đã bán hết mấy tuần trước rồi.
Cuối cùng chúng tôi xuống xe ở trong khuôn viên của trường đại học Kyoto. Mameha dẫn tôi đi theo con đường đất có hai hàng thông nhỏ hai bên. Những ngôi nhà xây theo kiểu Tây phương hai bên đường chúng tôi đi qua đều đóng cửa kín mít, cửa sổ lồng kính nhỏ vuông vức và khung cửa bằng gỗ sơn. Nhìn cảnh nhà cửa ở khu đại học, tôi mới nhận ra Gion là quê hương thân thiết của tôi. Chung quanh tôi có nhiều thanh niên da dẻ láng mướt, mái tóc chải rẽ, có người mặc quần áo dây treo cho khỏi tuột. Họ có vẻ lạ lùng ngạc nhiên khi thấy Mameha và tôi đi qua, thậm chí họ còn nói đùa với nhau nữa. Sau đó chúng tôi đi qua một cánh cổng sắt có một đám người già và một số phụ nữ, có cả vài cô geisha nữa. Kyoto có ít chỗ có thể dùng biểu diễn đô vật ở trong nhà được và ở đại học Kyoto dùng nhà biểu diễn cũ của trường để tổ chức. Nhà này bây giờ không còn nữa, nhưng lúc ấy, nó đứng chen lẫn trong đám nhà xây theo kiểu Tây phương trông giống như một ông già còm cõi mặc áo kimono đứng giữa đám thương gia tân tiến. Ngôi nhà giống cái hộp khổng lồ, mái nhà có vẻ không được vững chãi, nhưng tôi nghĩ nó như cái nắp đậy vừa cái bình trà méo mó. Những cánh cửa khổng lồ nằm một bên đã bị hư hỏng nhiều, gỗ cong queo bung ra khỏi khung sắt. Vẻ hư hỏng xấu xí của ngôi nhà này khiến tôi nhớ lại ngôi nhà ngà say của tôi, và bỗng nhiên tôi cảm thấy buồn.
Khi tôi bước lên bậc thềm đá để vào nhà, tôi trông thấy hai cô geisha đi qua sân rải sỏi, tôi cúi người chào họ. Họ gật đầu chào lại tôi, và một cô nói gì đấy với cô kia. Tôi thấy chuyện này lạ lùng quá, bèn nhìn kỹ họ hơn. Bỗng tim tôi đập nhanh, một cô là Korin, bạn của Hatsumono. Tôi cúi chào cô ta lần nữa vì tôi đã nhận ra cô ta, và tôi cố mỉm cười. Khi họ quay nhìn chỗ khác, tôi thì thào với Mameha:
- Chị Mameha, em vừa thấy người bạn của Hatsumono!
- Tôi không tin Hatsumono có bạn.
- Chị Korin đấy, chị ấy vừa mới ở đây, với một số các cô geisha khách nữa.
- Tôi biết Korin. Tại sao cô quá lo về cô ta? Cô ta có thể làm gì được?
Tôi không trả lời, nhưng nếu Mameha không lo thì tại sao tôi phải lo sợ làm gì.
Cái gây cho tôi ấn tượng mạnh nhất khi bước vào nhà biểu diễn là khoảng trống khổng lồ chạy lên tận mái nhà, dưới mái nhà, ánh sáng chiếu xuống qua các khung cửa sổ có màn che nằm cao trên đầu chúng tôi. Tiếng người ồn ào vang lên trong khoảng không gian khổng lồ ấy, với khói từ các lò nướng bánh bột gạo từ bên ngòai bay vào. Giữa nhà có một mô đất vuông vức nơi dùng làm chỗ cho các nhà đô vật tranh tài, trên mô đất có mái che theo kiểu mái đền thờ thần. một ông thầy tu đi quanh trên mô đất, tụng kinh cầu phú,c phất qua phất lại cái phương trượng co ‘trang hòang những dải giấy hình xoắn ốc.
Mameha dẫn tôi đến hàng chỗ ngồi ở phía trước, ở đấy chúng tôi tháo giày ra, đi vớ có xẻ ở đầu ngón chân trên một mép ván gỗ nhỏ. Những người tổ chức đã có mặt trong dãy ngồi này rồi, nhưng tôi không biết ai hết cho đến khi có một người đưa tay vẫy gọi Mameha, tôi hiểu ngay đó là ông Nobu. Tôi cũng hiểu lý do tại sao Mameha đã dặn dò trước với tôi về vẻ ngòai của ông ta. Ngay cả khi nhìn ông ta từ xa, tôi cũng thấy mặt ông như cây đèn cầy bị hơ chảy. Ông ta đã bị cháy phỏng mặt đâu đó từ lâu rồi, toàn bộ bề ngoài của ông ta trông rất thê thảm, tôi không thể tưởng tượng được sự đau đớn mà ông ta đã gánh chịu khi mới xảy ra tai nạn. Tôi đang lo lắng về chuyện gặp Korin, thì bây giờ lại lo thêm về chuyện sẽ gặp Nobu. Thế nào tôi cũng có những hành động thiếu bình tĩnh mất thôi. Khi đi sau Mameha, tôi chỉ chú ý đến một người đàn ông rất lịch sự ngồi bên cạnh ông Nobu trên chiếu rơm, ông ta mặc áo kimono có sọc. Khi tôi để mắt tới người đàn ông này, tôi bỗng thấy lòng tôi lặng đi một cách lạ lùng. Ông ta đang nói chuyện với người ngồi bên cạnh, nên tôi chỉ thấy phía sau đầu của ông ta mà thôi. Nhưng trông ta quá quen đến nỗi bỗng tôi không còn chú ý đến cái gì chung quanh nữa hết. Tôi nghĩ đến người tôi quen biết ở chỗ khác, không phải ở trong nhà biểu diễn này. Tôi đang loay hoay suy diễn thì bỗng trong óc tôi nảy ra hình ảnh của người đàn ông quay nhìn tôi trên đường làng của quê nhà.
Và tôi nhớ ra: đấy là ông Tanaka!
Ông ta đã thay đổi ra sao, tôi không thể miêu tả được. Tôi nhìn ông ta đưa tay vuốt mái tóc hoa râm và sững sờ kinh ngạc trước mấy ngón tay vuốt tóc một cách duyên dáng mềm mại. Tại sao tôi thấy cách vuốt tóc của ông ta có nét đặc biệt khiến tôi phải nhìn vào ông ta nhỉ? Có lẽ tôi bị chóa mắt khi nhìn ông ta và tôi cảm thấy hoang mang. Phải, trên đời này nếu người nào tôi ghét nhất, thì đó chính là ông Tanaka, tôi phải nhắc nhởmình nhớ lấy điều này. Tôi sẽ không đến quỳ bên ông ta và nói “Kìa ông Tanaka, tôi thật sự hân hạnh được gặp lại ông. Cái gì đã mang ông đến Kyoto thế này?” Nhưng thay vì làm thế, tôi sẽ tìm cách chứng tỏ cho ông ta thấy tôi nghĩ sao về ông ta, mặc dù điều ấy là một việc mà một geisha tập sự không được phép làm. Thật ra trong những năm vừa qua, tôi nghĩ đến ông Tanaka rất ít. Thế nhưng tôi thề với lòng mình là sẽ không đối xử tử tế với ông ta, nếu buộc lòng phải rót rượu sake cho ông ta, tôi sẽ rót tràn ra chân ông ta. Nếu buộc lòng phải cười với ông ta, tôi sẽ cười với nụ cười tôi thường thấy trên mặt Hatsumono, và rồi tôi sẽ nói “Ồ, ông Tanaka, mùi cá tanh rích.. Khi ngồi bên ông làm tôi nhớ nhà!” Chắc ông ta sẽ hết sức bàng hoàng sửng sốt! Hay có lẽ tôi sẽ nói như thế này “Kìa ông Tanaka, trông ông tuyệt vời quá!” Thế nhưng thật ra khi tôi nhìn kỹ vào ông ta, vì bây giờ tôi đã đến gần chỗ ông ta ngồi, quả trông ông tuyệt vời thật, tuyệt vời hơn bao giờ hết. Mameha vừa đến chỗ ông ta, cô ta quỳ xuống cúi người chào. Bỗng ông ta quay đầu nhìn lui, và đó là lần đầu tiên tôi nhìn vào khuôn mặt rộng, xương gò má sắc sảo…nhất là hai hàng mi, sít lại ở hai đuôi mắt, mượt mà thẳng thớm. Bỗng gió thổi và tôi là đám mây được gió cuốn đi.
Ông ta quen với tôi, đương nhiên, trên vài phương diện nào đó, ông ta còn quen hơn cả chính hình ảnh của tôi trong gương. Nhưng ông ta không phải là ông Tanaka, ông ta chính là ông Chủ tịch.
Tôi chỉ mới gặp ông Chủ tịch trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, nhưng tôi đã để dành rất nhiều thời gian để mơ tưởng đến ông ta. Ông ta là bài ca tôi chỉ được nghe một lần, nhưng bài ca ấy cứ được hát lại mãi trong trí óc tôi. Thế nhưng những nốt nhạc đã thay đổi theo từng giai đoạn của thời gian – nghĩa là tôi đã nghĩ đến chuyện trán ông cao thêm, tóc hoa râm của ông thưa bớt. Khi tôi thấy ông, tôi thoáng sợ không biết ông có thật sự phải là ông Chủ tịch không, nhưng tôi lại cảm thấy yên ổn trong lòng ngay, tôi tin chắc tôi đã tìm ra được ông.
Trong khi Mameha chào hai người đàn ông, tôi đứng phía sau đợi đến phiên mình chào họ. Nếu như khi tôi cất tiếng chào mà giọng tôi nghe như tiếng giẻ lau sàn nhà thì sao nhỉ? Nobu, với những vết sẹo thê thảm, nhìn tôi đăm đăm, nhưng tôi không biết ông Chủ tịch có để ý đến tôi hay không, tôi quá rụt rè, không dám nhìn về phía ông ta. Khi Mameha ngồi vào chỗ, vuốt chiếc kimono trên đầu gối cho phẳng, tôi thấy ông Chủ tịch nhìn tôi với ánh mắt mà tôi nghĩ là có vẻ hiếu kỳ. Hai chân tôi cóng lại vì máu đã dồn hết lên mặt.
- ông Chủ tịch Iwamura, ông quản lý Nobu – Mameha giới thiệu – đây là em út của tôi, Sayuri.
Tôi nghĩ chắc anh có nghe nói đến tên tuổi nổi tiếng của Iwamura Ken, nhà sáng lập ra công ty chế tạo đồ điện Iwamura. Và có lẽ anh cũng có nghe tiếng của Nobu Toshikazu. Có lẽ trên nước Nhật không có ai hùn hạp làm ăn nổi tiếng hơn sự hùn hạp của họ. Họ như thân với rễ trong cùng một cây, hay là như đền thờ với cái cổng ở đàng trước. Ngay như tôi, một cô gái mới có 14 tuổi, mà cũng nghe nói đến họ. Nhưng tôi không ngờ chính Iwamura Ken là người đàn ông tôi đã gặp bên bờ suối Shirakawa. Tôi quỳ xuống cúi chào họ, nói những lời như mọi khi. Khi chào nói xong, tôi đến quỳ bên chỗ còn rộng ở giữa họ. Nobu nói chuyện với người đàn ông bên cạnh, trong khi ông Chủ tịch, ngồi phía bên kia của tôi, bàn tay ôm tách trà không để trên đầu gối, Mameha nói chuyện với ông ta, tôi bưng bình trà nhỏ lên, giữ tay áo cho khỏi vướng để rót trà. Tôi ngạc nhiên thấy ông Chủ tịch đưa mắt nhìn vào cánh tay của tôi. Dĩ nhiên tôi rất muốn biết ông ta nhìn thấy cánh tay tôi ra sao. Có lẽ vì ánh sáng trong nhà lờ mờ nên phía dưới cánh tay tôi loang loáng sáng như bề mặt của viên ngọc mịn màng, và có màu ngà đẹp đẽ. Không có nơi nào trên cơ thể tôi đẹp bằng nơi ấy. Tôi thấy ông Chủ tịch không hề nhấp nháy mắt, vì ông ta cứ nhìn đăm đăm vào cánh tay tôi, nên tôi không hạ tay xuống. Rồi bỗng Mameha im lặng. Tôi nghĩ chắc cô ấy ngừng nói chuyện vì ông Chủ tịch cứ chăm chú nhìn vào cánh tay tôi, thay vì nói chuyện với cô ấy. Rồi tôi bỗng nhận ra sự thật trước mắt.
Mới trước đó một lát, tôi cảm thấy mình duyên dáng, nhưng bây giờ tôi vội vàng xin lỗi và để bình trà xuống. Mameha cười và nói:
- Ông Chủ tịch, chắc ông thấy cô ấy là người cương quyết như thế nào rồi. Nếu trong bình còn giọt nước nào, chắc Sayuri đã rót cho ông rồi.
- Cái áo kimono cô em út của cô mặc đẹp quá, Mameha à – ông Chủ tịch nói – nếu tôi nhớ không lầm, thì cô đã mặc cái áo này trong thời gian tập sự phải không?
Nếu tôi còn nghi ngờ người đàn ông này có phải đúng là ông Chủ tịch không, thì bây giờ khi nghe giọng ông ta nói, giọng tử tế quen thuộc, tôi không còn nghi ngờ gì nữa.
- Tôi nghĩ có thể tôi có mặc – Mameha đáp – nhưng ông Chủ tịch đã thấy tôi mặc quá nhiều kimono khác nhau trong nhiều năm qua, cho nên tôi nghĩ ông không thể nhớ hết được.
- Phải, tôi không khác mọi người khác. Sắc đẹp gây cho tôi ấn tượng mạnh. Khi nói đến các nhà đô vật, tôi không thể nói người nào đẹp hơn người nào.
Mameha nghiêng người tới trước mặt ông Chủ tịch và nói nhỏ với tôi:
- Ý của ông Chủ tịch muốn nói là ông không thích môn đô vật.
- Thôi, Mameha – ông ta nói – nếu cô muốn tôi gặp chuyện rắc rối với Nobu thì… - Thưa ông Chủ tịch, ông Nobu đã biết sở thích của ông từ lâu rồi.
- Nhưng cũng không nên nói ra. Sayuri này, có phải đây là lần đầu tiên cô xem đô vật không?
Tôi đã đợi cơ hội để nói với ông ta, nhưng trước khi tôi lên tiếng thì bỗng có tiếng rầm thật lớn vang lên làm ngôi nhà rung rinh, khiến cho tất cả chúng tôi đều giật mình. Mọi người im lặng, chúng tôi quay đầu nhìn, nhưng chẳng có gì ngoài cánh cửa lớn đóng lại. một lát sau, chúng tôi nghe tiếng bản lề cửa kêu răng rắc rồi thấy cánh cửa thứ hai từ từ mở ra, cánh cửa do hai võ sĩ đô vật đẩy mở ra. Nobu quay đầu khỏi tôi để nhìn tới chỗ ấy, tôi không thể nào không nhìn vào cái vết sẹo khủng khiếp do lửa đốt ở bên mặt và trên cổ ông ta, và vết sẹo trên lỗ tai làm tai ông biến dạng. Rồi tôi thấy cánh tay áo khoác của ông ta trống trơn. Nãy giờ tôi bận bịu nên không để ý đến cánh tay, cánh tay áo được xếp gấp lên,ghim vào vai bằng một cây ghim thật dài.
Nếu anh không biết, tôi xin kể chuyện Nobu bị thương cho anh nghe. Khi ông ta làm trung úy trong Hải quân Nhật, ông ta bị thương trong một vụ đánh bom ngoài Seoul vào năm 1910, khoảng thời gian Triều tiên bị sáp nhập vào Nhật. Khi tôi gặp ông ta, tôi không biết gì về hành động anh hùng của ông hết – mặc dù câu chuyện này đã được cả nước Nhật biết đến. Nếu ông ta không hợp tác với ông Chủ tịch để rồi sau đó trở thành quản lý của công ti sản xuất đồ điện Iwamura, thì có lẽ chuyện ông là anh hùng trong chiến tranh đã bị rơi vào quên lãng. Nhưng vì ông hợp tác với Iwamura, cho nên những vết thương khủng khiếp của ông đã làm cho câu chuyện thành công của ông được mọi người chú ý hơn, và hai người thường được nhắc nhở tới luôn.
Tôi không biết nhiều về lịch sử - vì nhà trường tôi học thường chỉ dạy cho chúng tôi nghệ thuật – nhưng tôi biết chính phủ Nhật nắm quyền kiểm soát hết Triều tiên vào lúc chấm dứt cuộc chiến tranh Nga – Nhật, và mấy năm sau chính phủ Nhật quyết định sáp nhập nước Triều tiên vào đế chế Nhật đang lớn mạnh. Tôi biết người dân Triều tiên không thích chuyện này. Nobu sang đó như là một lực lượng nhỏ giữ quyền kiểm soát. Một buổi chiều, ông ta đi theo vị sĩ quan chỉ huy đi thăm một ngôi làng gần Seoul. Khi trở về đến chỗ buộc ngựa, đơn vị tuần tra bị tấn công. Khi họ nghe tiếng tạc đạn nổ khủng khiếp, vị chỉ huy cố leo xuống một giao thông hào, nhưng ông ta già rồi và chậm chạp như một con ốc sên bò trên đá. Nobu chạy đến để giúp ông, nhưng vì ông sĩ quan chỉ huy qúa chậm chạp, nên quả tạc đạn bay đến nổ trên đầu ông. Quả tạc đạn nổ giết chết ông sĩ quan chỉ huy và làm cho Nobu bị thương nặng. Khi ở bệnh viện ra, Nobu mất cánh tay trái ở trên khuỷu tay.
Lần đầu tiên tôi thấy ống tay áo ghim lên, tôi hoảng hốt quay mặt đi chỗ khác. Trước đó tôi chưa bao giờ thấy người nào mất tay mất chân – mặc dù khi còn nhỏ đã thấy người phụ tá của ông Tanaka mất đầu ngón tay. Trong trường hợp của ông Nobu, nhiều người cho rằng một cánh tay chưa ghê lắm, mà chính cá vết thương ở da mới ghê gớm. Thật khó mà miêu tả hết vẻ ghê tởm trên da mặt của ông, và có lẽ quá độc ác khi muốn miêu tả ra. Tôi chỉ xin lặp lại một câu của geisha miêu tả về ông ta như thế này mà thôi “mỗi lần tôi nhìn vào mặt ông ta, tôi cứ nghĩ đến củ khoai lang nướng phồng trong lò lửa”.
Khi những cánh cửa khổng lồ đã đóng lại, tôi quay qua phía ông Chủ tịch để trả lời câu hỏi của ông. Vì là tập sự, nếu tôi muốn, tôi được phép ngồi yên lặng như một giỏ hoa, nhưng tôi quyết không để cho cơ hội này trôi qua. Cho dù tôi chỉ gây cho ông ta chút ít ấn tượng thôi, như bàn chân của em bé để lên nền đất, thì ít ra đây cũng là bước khởi đầu của tôi.
- Ông Chủ tịch hỏi có phải đây là lần đầu tiên em xem đô vật không – tôi nói – đúng thế đấy, và nếu được ông Chủ tịch giảng giải cho biết đôi điều về môn võ này thì em sẽ hết sức cám ơn ông.
- Nếu cô em muốn biết môn võ này đấu như thế nào – ông Nobu nói – cô nên nói với tôi thì tốt hơn. Tên cô em là gì, cô tập sự? Hồi nãy trong phòng ồn quá tôi nghe không rõ.
Tôi quay khỏi ông Chủ tịch với vẻ rất khó khăn như đứa bé đang đói bụng quay khỏi đĩa thức ăn.
- Tôi tên là Sayuri, thưa ngài – tôi đáp.
- Cô là em út của Mameha, tại sao cô không là “Mame” này nọ? – Nobu nói tiếp – không phải lấy tên kiểu ấy là cái tục lệ điên khùng của các cô hay sao?
- Dạ phải, thưa ngài. Nhưng tất cả các tên có chữ “Mame” theo lời ông thầy bói đều không được tốt cho tôi.
- Thầy bói! – Nobu nói với vẻ khinh bỉ - có phải ông ta là người đã chọn tên cho cô không?
- Tôi là người chọn tên ấy – Mameha đáp – thầy bói không chọn tên mà họ chỉ cho biết tên ấy có thích hợp hay không thôi.
- Mameha – Nobu nói tiếp – một ngày nào đó cô sẽ trưởng thành và không nghe những chuyện điên khùng như thế nữa.
- Thôi, thôi, Nobu – ông Chủ tịch nói – người nào nghe anh nói chắc đều nghĩ rằng anh là người tân tiến nhất nước Nhật, nhưng tôi chưa thấy ai tin vào số mệnh như anh cả.
- Mỗi người đều có số phận của mình. Nhưng có ai cần đến thầy bói để tìm ra số phận của mình không? Có phải tôi phải đến người đầu bếp để hói xem tôi có đói hay không à? – Nobu nói – nhưng dầu sao, Sayuri là một cái tên đẹp – mặc dù tên đẹp và người đẹp thường không đi đôi với nhau.
Tôi thấy phân vân không biết câu nói vừa rồi của ông ta có phải hàm ý như thế này không – “Mameha, cô đã chọn cô em út xấu quá!” – hay là có nghĩa gì đại loại như thế. Nhưng may thay ông ta nói tiếp:
- Trường hợp này tên và người đều đi đôi với nhau. Tôi nghĩ cô ta còn đẹp hơn cả cô nữa, cô Mameha à.
- Ông Nobu! Đàn bà không ai muốn nghe mình không phải là người đẹp nhất.
- Nhất là cô hả? Này, cô phải tập cho quen đi thì vừa. Cô ấy có đôi mắt rất đẹp. Sayuri, cô quay mặt cho tôi nhìn cặp mắt cô lần nữa đi.
Tôi không thể nhìn xuống chiếu được, vì Nobu muốn nhìn mắt tôi. Tôi cũng không thể nhìn thẳng vào mặt ông ta liền, vì như thế có vẻ tự phụ quá. Cho nên tôi phải từ từ nhìn quanh như thể đang tìm cái gì, rồi đưa mắt nhìn vào chỗ dưới cằm ông ta. Nếu tôi có thể bắt cặp mắt đừng thấy, chắc tôi sẽ làm liền, vì nét mặt của ông Nobu như bức tượng nắn bằng đất sét tồi. Chắc anh nhớ khi ấy tôi chưa biết chuyện đã gây cho khuôn mặt ông ta trở thành xấu xí như thế. Khi tôi tự hỏi chuyện gì đã xảy ra cho ông ta, tôi cảm thấy lòng nặng nề kinh khủng.
- Cặp mắt cô lung linh tỏa sáng một cách kỳ diệu – ông ta nói.
Ngay lúc ấy, cánh cửa nhỏ thông với hành lang bật mở, một người đàn ông đi vào, ông ta mặc áo kimono rất đặc biệt và đội cái mũ vải cao màu đen, trông như thể ông ta từ trong bức tranh của Hoàng triều bước ra. Ông ta đi vào con đường đi ở giữa, dẫn đầu đoàn đô vật khổng lồ, họ phải khom người xuống để đi qua ngưỡng cửa.
- Này cô em, cô biết gì về môn đô vật không? – Nobu hỏi tôi.
- Thưa ngài, chỉ biết võ sĩ đô vật khổng lồ như cá voi thôi – tôi đáp – có một người làm việc ở phòng đăng ký hộ tịch ở Gion trước đây đã từng là võ sĩ đô vật.
- Chắc cô muốn nói đến Awajiumi. Anh ta ngồi kia kìa – Nobu đưa tay chỉ về một bậcngồi khác, nơi có Awajiumi đang ngồi, ông ta đang cười về chuyện gì đấy với Korin đang ngồi bên cạnh. Chắc cô ta nhìn thấy tôi, vì cô ta mỉm cười rồi nghiêng người sang nói gì đó với Awajiumi, ông này bèn nhìn sang phía chúng tôi.
- Anh ta không phải là đô vật giỏi – Nobu nói – anh thích dùng vai để húc đối thủ. Anh chàng ngốc, không bao giờ thắng ai mà lại bị gãy xương đòn gánh nhiều lần.
Khi ấy các nhà đô vật đã vào hết trong nhà, họ đứng quanh dưới mô đất. Người ta xướng tên từng người một, và họ leo lên bệ, đứng xếp hàng thành một vòng tròn nhìn ra khán giả. Sau đó, khi họ đi ra bên ngòai, để cho những võ sĩ đô vật phía bên kia đi vào. Nobu nói với tôi:
- Sợi dây có hình tròn trên mặt đất là ranh giới võ đài. Người đô vật nào bị đẩy ra ngòai trước, hay là chạm người xuống đất trước, chạm bất cứ cái gì ngòai hai bàn chân là thua. Nghe thì dễ, nhưng làm sao cô đẩy nổi một con người khổng lồ như thế qua sợi dây?
- Chắc tôi phải lẻn ra sau lưng ông ta, rồi lấy mõ đánh lên cho ông ta sợ mà phải chạy ra ngài.
- Hãy nói năng cho nghiêm túc – Nobu nói.
Tôi không nghĩ đó là cách ăn nói khôn ngoan, nhưng tôi nghĩ đây là nỗ lực đầu tiên của tôi để nói đùa với đàn ông cho vui. Tôi cảm thấy lúng túng, không biết nói gì nữa. Bỗng ông Chủ tịch cúi người qua phía tôi.
- Ông Nobu không đùa bỡn về chuyện đô vật – ông bình tĩnh nói.
- Tôi không đùa bỡn ba loại chuyện quan trọng trong đời sống – Nobu nói – đó là đô vật, kinh doanh và chiến tranh.
- Trời đất, theo tôi thì đây cũng là loại nói đùa thôi – Mameha nói – ông không thấy ông đã mâu thuẫn với mình sao?
- Nếu cô đã thấy cảnh một trận chiến – Nobu nói với tôi – hay cảnh đấu tranh tôi một buổi họp về kinh doanh, cô có biết cái gì sẽ xảy ra không?
Tôi không biết ông ta muốn gì, nhưng cứ theo giọng ông ta nói, thì có lẽ ông ta muốn tôi nói không.
- Ồ, tôi không biết gì hết – tôi trả lời.
- Đúng thế. Và cô cũng không biết cái gì xảy ra trong đô vật nữa. Cho nên, cô có thể cười câu nói đùa của Mameha hay là lắng nghe tôi nói để hiểu rõ ý nghĩa của vấn đề.
- Ông ấy đã cố dạy tôi nhiều năm rồi – ông Chủ tịch nói với tôi – nhưng tôi là người học trò rất dốt.
- Ông Chủ tịch là người rất thông minh – Nobu đáp – ông ấy là học sinh dốt về đô vật vì ông không lưu tâm đến môn này thôi. Chiều nay ông ấy không muốn đến đây đâu, nhưng vì ông rộng lượng chấp nhận lời đề nghị của tôi để công ty Iwamura bảo trợ cho buổi biểu diễn này.
Liền sau đó hai đội làm xong các nghi thức lên võ đài. Hai nghi thức tiếp theo rất long trọng, đó là giới thiệu người Yokozuna của mỗi đội. Người yokozuna là người có cấp bậc cao nhất trong đô vật, Nobu giảng cho tôi nghe rằng cấp bậc này “y như vị trí của Mameha ở Gion vậy”. Đương nhiên tôi phải tin ông ta, nhưng nếu Mameha chỉ ở trong buổi tiệc nửa chừng rồi bỏ về như các ông yokozuna này lên võ đài trong chốc lát, thì thế nào cô ấy cũng không được mời lại lần nữa. người yokozuna thứ hai có thân hình thấp lùn và có khuôn mặt rất đáng chú ý – không phải bự thịt mà rắn rỏi như đá, hàm xai bạnh ra khiến tôi nghĩ đến mũi thuyền đánh cá vuông vức. Khán giả vỗ tay hoan hô đinh tai nhức óc. Tên ông ta là Miyagiyama, và nếu anh biết về môn đô vật, chắc anh hiểu lý do tại sao người ta hoan hô nhiệt liệt đến thế.
- Chưa bao giờ tôi thấy một người đô vật nào vĩ đại như thế - Nobu nói với tôi.
Trước khi các trận đấu bắt đầu, người giới thiệu chương trình tuyên bố danh sách phần thưởng dành cho người thắng. Nobu Toshikaza, quản lý công ty điện Iwamura, tặng thưởng một số tiền khá lớn. Khi nghe tuyên bố tin này, ông ta có vẻ bực mình, nói:
- Đồ điên! Tiền này đâu phải của tôi, mà của công ty điện Iwamura, ông Chủ tịch, tôi xin lỗi nhé. Tôi xin gọi người đến bảo xướng ngôn viên đính chính lại.
- Khỏi đính chính, Nobu. Cứ xem như tôi nợ anh rất nhiều, việc này quá nhỏ.
- Ông Chủ tịch quá rộng lượng – Nobu nói – tôi rất cám ơn – nói xong ông ta đưa tách uống sake cho ông Chủ tịch rót đầy, và hai người cụng tách.
Khi cặp vô địch đầu tiên lên võ đài, tôi cứ tưởng trận đấu sẽ bắt đầu ngay. Nhưng không, họ dành 5 phút hay nhiều hơn nữa để rảy muối trên nền võ đài, rồi ngồi xổm xuống, nghiêng người qua một bên rồi đưa một chân lên cao và dậm xuống đất. Chốc chốc họ thu mình lại như sẵn sàng tấn công, quắc mắt nhìn nhau, nhưng ngay khi tôi tưởng họ tấn công thì bỗng một người đứng lên, đi bốc một nắm muối khác. Cuối cùng khi tôi nghĩ chưa đến họ tấn công thì họ xáp vào nhau. Họ nhào vào nhau, nắm dải thắt lưng của nhau, nhưng chỉ trong nháy mắt, một người đẩy người kia mất thăng bằng nhào xuống, và thế là trận đấu kết thúc. Khán giả vỗ tay hoan hô nhưng Nobu lắc đầu chê trách.
Trong những trận tiếp theo, tôi cảm thấy một tai tôi dính vào óc, một tai dính vào tim, vì một tai tôi nghe ông Nobu nói, mà những điều ông nói rất hay, nhưng tai kia tôi lại nghe ông Chủ tịch nói chuyện với Mameha khiến tôi bị chia trí.
Hơn một giờ trôi qua như thế, rồi bỗng tôi chợt thấy có cái gì màu tươi sáng ở bên chỗ ngồi của Awajumi động đậy. Vật ấy là một đóa hoa lụa màu vàng cam nhúc nhích trên mái tóc người phụ nữ khi chị ta quỳ gối ngồi vào chỗ ngồi. Thoạt tiên tôi nghĩ đấy là Korin, tôi tưởng cô ta đã thay kimono. Nhưng nhìn kỹ, tôi thấy không phải Korin mà là Hatsumono.
Gặp cô ta ở đây quả là một điều tôi không ngờ đến. Tôi cảm thấy thót người lên như dẫm phải dây điện. Dĩ nhiên việc cô ta tìm cách làm nhục tôi chỉ là vấn đề thời gian, thậm chí ở đây, trong ngôi nhà khổng lồ này, giữa hàng trăm người. Tôi cóc cần cô ta chọc quê tôi trước mặt đám đông, nếu xảy ra việc ấy, nhưng tôi không chịu đựng được cảnh khi thấy mình như đồ hèn trước mặt ông Chủ tịch. Cuống họng tôi nóng ran như lửa đốt, thậm chí tôi không thể giả vờ nghe ông Nobu nói về cặp đô vật khác đang leo lên võ đài. Khi tôi nhìn qua Mameha, cô ấy nháy mắt qua phía Hatsumono rồi nói:
- Thưa ông Chủ tịch, xin mạn phép ông, tôi xin lỗi ra ngoài một lát. Và tôi nghĩ Sayuri cũng muốn ra ngoài một lát.
Cô ấy đợi cho đến khi Nobu nói xuống chuyện rồi tôi theo cô ấy ra ngoài.
- Ôi chị Mameha, mụ ta như quỷ sứ! – tôi nói.
- Korin rời khỏi đây hơn một giờ rồi.Chắc cô ta đi tìm Hatsumono để báo cho cô ta biết mà đến đây. Cô em phải hãnh diện về việc này mới đúng, vì Hatsumono đã cất công đến đây để quấy phá cô.
- Em không chịu được cảnh cô ta sẽ làm nhục em trước mắt ..ờ, trước mắt những người này.
- Nhưng nếu cô ta làm gì để cho cô ta thấy hả dạ thì chắc cô ta sẽ để cho cô yên, phải không?
- Chị Mameha, chị vui lòng …đừng để em lúng túng.
Chúng tôi đi qua sân, đến gần nhà vệ sinh, nhưng thay vì chúng tôi bước lên tầng cấp vào phòng vệ sinh, thì Mameha dẫn tôi đến một con đường nhỏ cách xa đấy một đoạn để không ai nghe được, và cô ta bảo:
- Ông Nobu và ông Chủ tịch đã bảo trợ cho tôi nhiều năm nay. Chỉ có trời mới biết ông Nobu gay gắt với những người ông ta không ưa ra sao, nhưng ông ta rất trung thành với bạn như người hầu cận của lãnh chúa trung thành với chủ, và cô sẽ không bao giờ gặp được người đàn ông nào đáng tin như ông ta đâu. Cô có biết Hatsumono hiểu rõ những chuyện đáng quý này không? Khi cô ta nhìn Nobu, cô ta chỉ thấy ông ta là “ông thằn lằn” thôi. Cô ta gọi ông ta thế đấy, và sẽ nói như thế này này “chị Mameha, đêm qua tôi thấy chị với ông thằn lằn đấy! Ôi trời đất, trông chị bết quá. Tôi nghĩ chị mất mặt vì ông ta đấy” – đại loại như thế. Bây giờ tôi không cần lưu tâm đến việc cô nghĩ sao về ông Nobu. Với thời gian, cô sẽ thấy ông ta là người tốt như thế nào. Nhưng nếu Hatsumono nghĩ rằng cô quá thích ông Nobu, thế nào cô ta cũng để cho cô yên thân.
Tôi không biết phải trả lời ra sao khi nghe cô ấy nói như thế. Thậm chí tôi cũng chưa biết tính sao về những việc cô ấy yêu cầu tôi phải làm.
- Ông Nobu đã nói chuyện với cô về đô vật cả buổi chiều – cô ấy nói tiếp – mọi người đều nghĩ cô mến ông ta. Bây giờ cô hãy tiếp tục làm thế để cho Hatsumono hả dạ. Hãy làm cho cô ta nghĩ rằng cô mê ông ta hơn bất cứ ai hết. Cô ta sẽ nghĩ đây là chuyện khôi hài đáng cười. Có lẽ cô ta còn muốn cô ở lại Gion để làm trò cười cho cô ta nữa.
- Nhưng thưa chị Mameha, làm sao em làm cho Hatsumono nghĩ em đã mê mẩn ông ấy được?
- Nếu cô không tìm ra cách để làm được một việc như thế thì tôi đã không huấn luyện cô đúng đắn rồi – cô ấy trả lời.
Khi chúng tôi trở lại chỗ ngồi, Nobu đang nói chuyện với người ngồi bên cạnh. Tôi không thể cắt ngang câu chuyện của họ, nên tôi giả vờ chăm chú xem các võ sĩ đô vật trên võ đài đang chuẩn bị giao đấu. Khán giả trở nên cuồng nhiệt hơn, không phải chỉ có Nobu nói chuyện thôi. Tôi rất muốn quay qua hỏi ông Chủ tịch có nhớ chuyện cách đây mấy năm ông đã tỏ ra có lòng tốt với một cô bé…nhưng dĩ nhiên tôi không thể nói chuyện như thế. Ngoài ra nếu Hatsumono thấy tôi chú ý đến ông ta, thì tình hình sẽ trở nên rất tai hại.
Một lát sau Nobu quay qua tôi và nói:
- Những trận đấu này quá tẻ nhạt. Đợi đến khi Mijagiyama thi đấu, chúng ta mới thấy tài năng thật sự.
Tôi thấy đây là cơ hội để tôi tỏ ra mê mẩn ông ta. Tôi đáp:
- Nhưng các trận em vừa xem rất ấn tượng, thưa ông. Và những điều ông nói cho em biết thật quá hấp dẫn, em không thể tưởng tượng ra được chuyện gì có thể hay hơn thế.
- Đừng ngớ ngẩn – Nobu nói – không có tay đô vật nào trong số vừa rồi đáng sánh với Miyagiyama đâu.
Tôi nhìn qua vai Nobu, thấy Hatsumono ngồi ở tầng đằng xa. Cô ta đang nói chuyện với Awajiumi và làm ra vẻ không nhìn về phía tôi.
- Em muốn hỏi ông một câu ngốc nghếch này – tôi nói – tại sao một người đô vật nhỏ con như Miyagiyama lại có thể trở thành một nhà đô vật vĩ đại nhất?
Nếu khi ấy anh thấy mặt tôi, thế nào anh cũng nghĩ không có vấn đề gì làm cho tôi quan tấm đến hơn vấn đề về đô vật này. Tôi cảm thấy mình kỳ cục, giả vờ chăm chú vào chuyện vặt vãnh, nhưng những người thấy chúng tôi khi ấy, chắc ai cũng nghĩ rằng chúng tôi đang tâm sự mật thiết với nhau. Tôi sung sướng mà nói rằng chính vào lúc ấy, tôi thấy Hatsumono đang quay đầu về phía tôi.
- Miyagiyama trông nhỏ con vì những người khác quá mập mà thôi – Nobu nói – những ông ta rất tự phụ về tầm vóc của mình. Chiều cao và trọng lượng của ông ta được đăng trên báo chính xác cách đây mấy năm, thế nhưng ông ta thấy nhục. Nên để cho người bạn lấy tấm ván đánh trên đầu, rồi ngốn một bụng khoai lang với nước, và đi đến tòa báo để chứng minh cho họ thấy họ sai lầm.
Tôi phải cười khi nghe Nobu nói đến bất cứ cái gì – nghĩa là tôi phải làm cho Hatsumono hài lòng. Nhưng thật ra, nghĩ đến cảnh Miyagiyama nhắm mắt đợi tấm ván phang xuống đầu, làm sao mà không cười được! Tôi cứ mường tượng hình ảnh ấy trong óc và cười ngặt nghẽo khiến cho Nobu cuối cùng cũng cười theo. Trước mắt Hatsumono, chúng tôi có vẻ như đôi bạn thân thiết nhất đời, vì tôi thấy cô ta vỗ tay có vẻ khoan khoái.
Lát sau, tôi bèn nghĩ ra một ý, giả vờ xem Nobu là ông Chủ tịch, mỗi lần ông ta nói, tôi không để ý đến giọng cáu kỉnh gay gắt của ông ta, mà cố tưởng tượng ra đấy là giọng nói dịu dàng của ông Chủ tịch. Dần dần tôi có thể nhìn vào môi ông ta, cố loại ra khỏi óc hình ảnh đôi môi nhợt nhạt trên khuôn mặt đầy sẹo, hình dung ra đấy là môi của ông Chủ tịch, và mỗi câu nói của ông ta là lời của ông Chủ tịch nói với tôi. Đôi lúc tôi có cảm giác như mình không phải đang ngồi trong nhà biểu diễn mà đang ở trong một căn phòng yên tĩnh, quỳ một bên ông Chủ tịch. Khi ấy tôi cảm thấy mình hạnh phúc một cách lạ lùng. Như quả bóng tung lên trên không, đứng yên bất động một lát rồi mới rơi xuống. Tôi cảm thấy mình treo lơ lửng trên không trong trạng thái yên ổn phi thời gian. Khi tôi nhìn quanh phòng, tôi chỉ thấy sắc đẹp của những thanh gỗ khổng lồ và ngửi mùi thơm của bánh bột gạo. Tôi cứ ngỡ tình trạng sung sướng này không bao giờ chấm dứt, nhưng bỗng nhiên tôi lên tiếng nói cái gì đấy mà tôi không nhớ được. Và Nobu đáp:
- Cô nói gì thế? Chỉ có đồ điên mới nghĩ đến chuyện ngu dốt như thế.
Nụ cười tắt trên môi tôi ngay lập tức như cái vật buộc đầu sợi dây rơi xuống ngay khi dây bị cắt. Nobu nhìn đăm đăm vào mắt tôi. Dĩ nhiên Hatsumono ngồi xa chúng tôi, nhưng tôi vẫn còn cảm thấy cô ta đang nhìn chúng tôi. Rồi tôi nghĩ rằng nếu một nàng geisha hay một cô tập sự đang rơm rớm nước mắt trước một người đàn ông, thử hỏi có ai mà không động lòng? Có lẽtôi đã xin lỗi khi nghe ông ta trả lời gay gắt, nhưng tôi đã cố tưởng tượng ra chính ông Chủ tịch đã nói với tôi, nên môi tôi bỗng run run, tôi cúi đầu làm ra vẻ mình bé bỏng.
Tôi ngạc nhiên khi nghe Nobu hỏi:
- Tôi đã làm cho cô đau khổ, phải không?
Giả vờ hít mũi thút thít đôi với tôi chẳng khó khăn gì, Nobu cứ nhìn tôi một lát nữa rồi mới nói:
- Cô thật có duyên!
Tôi nghĩ chắc ông ta định nói thêm gì nữa, nhưng ngay lúc ấy Miygiyama bước vào nhà thi đấu và đám đông la hét hoan hô rầm rĩ.
Miyagiyama và nhà đô vật kia, tên là Saho, quần thảo nhau trên võ đài một hồi lâu, họ bốc muối ném lên nền đất, hay là dậm chân thình thịch như các võ sĩ trước đã làm. Mỗi lần họ thu mình lại nhìn nhau, tôi cứ tưởng hai tảng đá lớn trơn láng sắp sửa nhào vào nhau. Miyagiyama hơi chồm tới trước một chút so với Saiho, ông này cao và nặng hơn nhiều. Tôi nghĩ khi họ xông vào nhau, thế nào ông Miyagiyama tội nghiệp kia cũng bị té ngửa ra sau, tôi không tin có ai có thể đẩy Saiho ra ngoài sợi dây kia được; họ đứng vào thế tấn công. Bỗng Nobu nói nhỏ vào tai tôi:
- Thế Hataki Komi! Ông ta sắp dùng thế Hataki Komi. Nhìn vào mắt ông ta tôi biết!
Tôi làm theo lời Nobu nói, nhưng tôi chỉ thấy Miyagiyama không nhìn vào Saiho. Tôi nghĩ chắc Saiho không thích bị đối thủ coi thường như thế này, vì ông ta quắc mắt nhìn đối thủ dữ tợn như một con thú. Thịt hai bên má quá dầy và bự nên cái đầu ông ta trông như trái núi nhỏ, và vì tức giận nên mặt ông ta đỏ rần. Nhưng Miyagiyama vần ra vẻ như không thèm chú ý đến ông ta.
- không còn lâu nữa đâu! – Nobu nói nhỏ với tôi.
Và quả vậy, lần thu mình tiếp theo, Saiho tấn công.
Nhìn Miyagiyama chồm người tới trước như hồi nãy, ai cũng nghĩ ông ta sẽ phóng mình vào đối thủ, nhưng không, ông ta dùng sức mạnh của Saiho để gượng người đứng tấn. Rồi nhanh như chớp, ông ta xoay người như cánh cửa xoay, tay ông ta chụp vào gáy của Saiho. Trong khi ấy thân hình nặng nề của Saho nhào tới trước như người ngã nhào từ trên cầu thang xuống, Miyagiyama đem hết sức đẩy mạnh đối thủ tới trước, Saiho văng qua khỏi sợi dây và nhào xuống. Tôi kinh ngạc thấy hòn núi người bay qua khỏi mép ụ võ đài, văng vào hàng ghế đầu của khán giả. Mọi người nhanh chân chạy tránh chỗ, nhưng khi xong xuôi, một người đàn ông đứng lên, thở hổn hển vì vai ông ta bị Saiho táng vào.
Cuộc chạm trán chỉ kéo dài một giây, chắc Saiho cảm thấy nhục nhã thất bại, vì ông chỉ cúi đầu chào chiếu lệ như những người thua cuộc trước đó, rồi đi ra khỏi đấu trường trong khi khán giả vẫn còn hò hét hoan hô.
- Đấy – Nobu nói với tôi – thế ấy gọi là Hataki komi.
- Thật kỳ lạ - Mameha nói, vẻ thẫn thờ. Thậm chí cô ấy không nói ra hết ý nghĩ của mình nữa.
- Cái gì mà thật kỳ lạ? – ông Chủ tịch hỏi cô ấy.
- Điều Miyagiyama làm đấy. Chưa bao giờ tôi thấy một việc như thế này.
- Phải. Dân đô vật thường làm được như thế.
- Ờ, việc này khiến cho tôi nghĩ…- Mameha nói.
Sau đó, khi trên đường về lại Gion, Mameha quay qua nói với tôi rất hăng say trên xe kéo:
- Anh chàng đô vật ấy đã gợi cho tôi một ý rất kỳ diệu. Hatsumono không biết được ý này đâu. Cô ta đã bị hỏng cẳng rồi. Và nếu cô ta có tìm ra được thì cũng đã quá trễ rồi.
- Ồ chị Mameha, chị đã có kế hoạch rồi phải không? – tôi hỏi – xin chị vui lòng cho em biết đi.
- Cô tin bây giờ tôi nói cho cô biết à? Ngay cả người hầu thân tín của tôi, tôi cũng không nói. Cô chỉ có việc hãy làm cho Nobu chú ý đến cô là được. Mọi việc đều phụ thuộc vào ông ta, và vào một ông khác nữa.
- Ông khác nào thế?
- Một người cô chưa gặp. Bây giờ ta đừng nói đến chuyện này nữa! Tôi nói thế có lẽ hơi nhiều rồi, hôm nay cô gặp ông Nobu thật quá tuyệt vời. Ông ta có thể là người cứu tinh của cô đấy.
Tôi phải thú nhận khi nghe cô ấy nói như thế, tôi cảm thấy đau nhói trong lòng. Nếu tôi có được một vị cứu tinh, tôi muốn người ấy là ông Chủ tịch, chứ không ai khác.
Thế là tôi biết được nguồn gốc ông Chủ tịch, cho nên ngay tối hôm đó, tôi gặp được tờ báo nào là tôi đọc liền, hy vọng sẽ biết thêm về ông ta. Trong vòng một tuần, tôi thu lượm được cả một chồng báo cất trong phòng tôi, khiến cho bà Dì nhìn tôi như thể tôi là đồ mất trí. Tôi đọc thấy có vài bài viết về ông, nhưng chỉ nói phớt qua, chứ không có bài nào cho tôi biết những tin tức mà tôi muốn biết. Thế nhưng, tôi tiếp tục thu nhập bất kỳ tờ báo nào thòi ra ở trong sọt rác, cho đến một hôm tôi tìm thấy một gói bao sau một phòng trà. Lục tìm trong gói báo này, tôi thấy một số báo phát hành cách đây 2 năm có nói đến công ty điện Iwamura.
Thì ra công ty điện Iwamura làm lễ kỷ niệm thứ 20 vào năm 1931. Tôi kinh ngạc khi nghĩ đến việc này, vì khi tôi gặp ông Chủ tịch bên bờ suối Shirakawa đúng vào tháng này. Nếu trên các tờ báo mà tôi xem có đăng ảnh của ông ta, thế nào tôi cũng nhận ra. Thế là tôi có ngày để tìm, tôi tìm các bài báo viết về buổi lễ kỷ niệm này. Hầu hết các số báo viết về công ty đều nằm trong đống đồ tạp nham từ nhà kỹ nữ phía trước bên kia đường vứt ra sau ngày bà ngoại của bên nhà ấy mất.
Ông Chủ tịch sinh năm 1890, theo chỗ tôi biết, nghĩa là khi tôi gặp ông ta lần đầu, mặc dù tóc đã hoa râm, nhưng ông chỉ mới trên 40 một chút. Ngày hôm ấy, tôi cứ nghĩ ông chỉ là chủ tịch một công ty xoàng xĩnh, nhưng tôi đã lầm. Theo các bài báo viết thì công ty Iwamura không lớn bằng công ty Osaka, đối thủ chính của công ty Iwamura ở phía Tây nước Nhật. Nhưng ông Chủ tịch và ông Nobu được nhiều người biết tiếng hơn cả các ông thủ trưởng của nhiều công ty lớn hơn, là vì nhờ sự hợp tác làm ăn nổi tiếng của họ. Tóm lại công ty Iwamura được xem là công ty có óc sáng tạo và có tiếng tăm hơn.
Năm 17 tuổi, ông Chủ tịch đến làm việc cho một công ty đồ điện nhỏ ở Osaka. Chẳng bao lâu sau, ông ta giám sát một toán nhân viên lắp đặt giây điện cho các xí nghiệp trong khu vực. Lúc ấy nhu cầu về ánh sáng đèn điện trong nhà và trong các xí nghiệp càng ngày càng cao, tối nào ông Chủ tịch cũng thiết kế một loại dụng cụ dùng hai bóng đèn cho một ổ cắm thay vì một bóng đèn mà thôi. Tuy nhiên ông Giám đốc công ty không muốn thiết kế và chế tạo loại này, cho nên vào năm 22 tuổi, năm 1912, sau khi đã cưới vợ một thời gian ngắn, ông Chủ tịch ra riêngthành lập công ty của mình.
Tình hình khó khăn kéo dài mấy năm, đến năm 1914, công ty mới của ông Chủ tịch ký được hợp đồng thi công lắp ráp dây điện cho một tòa nhà mới trong khu quân sự Osaka. Khi ấy Nobu vẫn còn trong quân đội, vì thương tích chiến tranh trên người nên ông khó tìm được việc. Ông được giao nhiệm vụ giám sát công trình của công ty Iwamura, ông và ông Chủ tịch nhanh chóng trở thành bạn bè, và khi ông Chủ tịch đề nghị giao cho ông đảm trách một số công việc của công ty vào năm sau, ông liền nhận lời.
Tôi càng đọc nhiều về sự hợp tác làm ăn của họ, tôi càng hiểu tại sao hai người gắn bó với nhau như keo sơn như thế. Hầu hết các bài báo đều có in tấm hình của hai người, ông Chủ tịch mặc bộ đồ vét hợp thời trang bằng len dày, tay cầm cái ổ cắm điện bằng sứ cắm hai bóng điện, sản phẩm đầu tiên của hãng họ. Ông ta làm ra vẻ như có ai đấy vừa đưa ổ cắm điện cho ông ta, và ông chưa biết phải làm gì với cái thứ này. Miệng ông hơi hé mở, để lộ hai hàm răng trắng, nhìn vào ống kính với cặp mắt ham he, như thể ông sắp sửa ném cái ổ cắm đi. Trái lại Nobu đứng bên cạnh ông, thấp hơn ông nửa cái đầu, mặt cau có, bàn tay duy nhất nắm chặt lại để bên hông, ông ta mặc áo khoác mỏng và quần vải sọc. Cái mặt sẹo hoàn toàn vô cảm và cặp mắt sùm sụp. ông Chủ tịch trông đáng là cha của Nobu, có lẽ vì tóc của ông đã hoa râm và dáng của ông to cao, mặc dù ông chỉ lớn hơn Nobu hai tuổi. Các bài báo viết rằng trong khi ông Chủ tịch có trách nhiệm về sự phát triển của công ty thì Nobu có nhiệm vụ quản lý điều hành công ty. Nobu tuy là người ít nổi bật hơn và đảm trách công việc ít quan trọng hơn, nhưng ông ta đã làm việc rất tốt đến nỗi ông Chủ tịch thường tuyên bố với mọi người rằng nếu không nhờ tài năng của Nobu thì công ty không vượt qua được nhiều cơn khủng hoảng. Chính Nobu đã mang đến cho công ty một nhóm đầu tư và cứu công ty khỏi bị suy sụp vào đầu những năm 1920. Ông Chủ tịch thường nói “tôi nợ Nobu một món nợ mà tôi không thể nào trả được.”
Nhiều tuần trôi qua, một hôm tôi nhận được giấy báo đến nhà Mameha vào chiều hôm sau. Lúc này tôi đã quen mặc áo kimono vô giá do chị hầu của Mameha mang ra cho tôi, nhưng khi tôi đến, chị hầu đưa ra một chiếc áo kimono lụa dùng mặc mùa thu, có màu đỏ tươi và vàng, trên áo có in hình những chiếc lá tung bay nhảy múa trên cánh đồng cỏ úa. Bỗng tôi giật mình khi trông thấy một đường rách ngay phía sau áo, rộng đủ chuồi lọt hai ngón tay. Mameha chưa về, nhưng tôi cầm cái áo ra nói cho chị người hầu biết:
- Này chị Tatsumi, thật đáng tiếc…nhưng chiếc áo kimono này hỏng rồi .
- Không sao đâu thưa cô, chỉ cần khâu lại là xong. Cô chủ mượn cái áo này sáng nay ở nhà Kỹ nữ cuối đường.
- Chắc cô ấy không biết - tôi nói – tôi sợ cô ấy cho rằng tôi đã làm hỏng chiếc áo này.
- Ồ, cô ấy đã biết cái áo rách rồi – Tatsumi đáp - thực ra cái áo lót cũng rách và rách cùng một chỗ… Tôi đã mặc cái áo lót màu kem vào rồi, nghe thấy thế, tôi đưa tay ra sau sờ vào chân. Tôi thấy Tatsumi nói đúng.
- Năm ngoái, cô geisha tập sự vô ý làm chỗ ấy móc vào đinh – Tatsumi nói tiếp – nhưng rõ ràng cô chủ muốn cô mặc cái áo đấy đấy.
Tôi thấy thật vô lý nhưng vẫn làm theo lời Tatsumi. Một lát sau Mameha về, trong khi cô sửa sang lại khuôn mặt, tôi hỏi cô lý do. Cô ấy đáp:
- Cô mặc cái áo ấy cho phù hợp với kế hoạch của tôi. Hai người đàn ông có ảnh hưởng quan trọng trong tương lai của cô. Cô đã gặp Nobu cách đây mấy tuần rồi, còn người đàn ông kia đi xa có việc mới về, nhưng nhờ cái áo kimono rách này mà cô sắp gặp ông ta. Cái anh chàng đô vật ấy đã gợi cho tôi một ý thật tuyệt vời! Tôi không thể đợi lâu để xem phản ứng của Hatsumono ra sao khi cô từ cõi chết trở về. Cô có biết ngày hôm kia cô ta đã nói với tôi ra sao không? Cô ta cám ơn tôi mấy cũng không đủ, vì tôi đã đưa cô đến xem buổi biểu diễn đô vật. Cô ta nói rằng công lao của cô ta đến đấy chỉ để nhìn cô đắm đuối say mê ông Thằn Lằn, thật rất xứng đáng. Tôi tin rằng cô ta sẽ để cho cô yên thân khi cô giải trí cho ông ấy, nhưng có thể thỉnh thoảng cô ta ghé đến một tí để xem cho biết. Thật vậy, khi có cô ta bên cạnh, cô nói chuyện thân mật với ông Nobu càng nhiều càng tốt. Nhưng trái lại, cô không được nói một tiếng nào về người đàn ông mà cô sẽ gặp chiều nay.
Khi nghe thế, tôi đau đớn tận tâm can, ngay cả khi tôi làm ra vẻ hài lòng với những điều cô ấy vừa nói, vì anh biết không, người đàn ông sẽ không bao giờ gian díu ân ái với người geisha là tình nhân của người hợp tác làm ăn thân cận với họ. Mới trước đó vài tháng, một buổi chiều trong buồng tắm, tôi nghe một thiếu nữ an ủi người kia, cô này vừa được tin vị danna mới của mình sẽ là người liên doanh cùng với người đàn ông mà cô ta mơ ước. Tôi không muốn rồi đây tôi cũng lâm vào tình cảnh như cô ấy.
- Thưa chị - tôi nói – em xin phép hỏi chị được không? Có phải kế hoạch của chị là rồi đây ông Nobu sẽ là danna của em không?
Mameha dừng tay trang điểm, hạ cái bàn chải xuống, nhìn tôi trong gương với ánh mắt mà tôi nghĩ là nó có thể sẽ chặn đứng cả một đòan tàu, rồi cô ấy trả lời :
- Ông Nobu là người tốt. Có phải cô nghĩ rằng có người danna như ông ấy là nhục nhã không?
- Dạ không, thưa chị. Em không nghĩ thế. Em chỉ phân vân… - Rất tốt. Vậy tôi có hai điều muốn nói với cô. Điều thứ nhất, cô là cô gái mới có 14 tuổi và chưa có tiếng tăm gì hết. Cô rất may mắn để trở thành một nàng geisha với đầy đủ uy tín để cho một người đàn ông như ông Nobu tính đến chuyện đưa ra đề nghị làm danna của cô. Thứ hai, ông Nobu chưa bao giờ tìm được một nàng geisha nào làm cho ông ta vừa ý để làm tình nhân. Nếu cô là người đầu tiên, tôi nghĩ đấy là điều cô phải đáng tự hào.
Tôi cảm thấy mặt nóng bừng như đang đứng bên bếp lửa. Mameha nói rất đúng, nhớ lại những chuyện đã xảy ra cho tôi trong những năm qua, tôi phải cho là mình may mắn khi gây được sự chú ý của một người như ông Nobu. Nếu Nobu mà tôi còn chưa với tới được, thì chắc người như ông Chủ tịch chắc tôi cũng chẳng bao giờ với tới được. Khi gặp lại ông ta trong buổi biểu diễn đô vật, tôi đã tưởng cuộc đời tôi sắp sửa lên hương, nhưng bây giờ nghe Mameha nói, tôi có cảmtưởng mình đang ngụp lặn trong biển sầu.
Tôi vội vã mặc áo rồi Mameha dẫn tôi đi đến nhà kỹ nữ nơi cô ấy sống cho đến ngày cô ta ra ở riêng cách đây sáu năm. Khi đến cửa, chúng tôi được một chị hầu lớn tuổi ra đón chào, chị ta chép môi, lắc đầu rồi nói:
- Chúng tôi mới gọi điiện đến bệnh viện. Hôm nay bác sĩ sẽ về nhà lúc 4 giờ. Bây giờ ba giờ rưỡi rồi đấy.
- Chúng tôi sẽ gọi điện đến cho ông ta trước khi chúng tôi đi, chị Kazuko à - Mameha đáp - Tôi nghĩ ông ta đang đợi tôi.
- Tôi hy vọng thế. Để cho cô gái chảy máu lâu thì quá tàn ác.
- Ai chảy máu thế? – tôi hoảng hồn hỏi.
Nhưng chị hầu chỉ nhìn tôi mà thở dài rồi dẫn chúng tôi lên cầu thang đến một hành lang nhỏ ở tầng hai có nhiều người đang đứng. Trong một khoảng hẹp chỉ trải vừa hai chiếc chiếu rơm, có không những Mameha, tôi và chị hầu, mà còn có thêm ba thiếu nữ khác nữa và một người đầu bếp cao gầy, mặc cái tạp dề cứng ngắc. Tất cả đều nhìn tôi với vẻ mặt lo lắng, ngoại trừ bà đầu bếp, bà ta vắt trên vai cái khăn lớn và mài con dao, loại dao dùng chặt đầu cá. Tôi cảm thấy mình như lát cá thu mà người bán hàng vừa giao, vì tôi hiểu ra bây giờ tôi sẽ là người bị làm cho chảy máu.
- Chị Mameha …- tôi nói.
- Này Sayuri, tôi biết cô sắp nói gì rồi - cô ấy nói với tôi và tôi chỉ biết lắng nghe, nghẹn họng không biết nói gì được nữa - trước khi tôi làm chị cả của cô, có phải cô đã hứa sẽ làm bất cứ cái gì tôi yêu cầu không?
- Nếu em biết những điều chị yêu cầu bao gồm cả việc cắt lá gan… - Không ai cắt lá gan của cô đâu – bà đầu bếp nói, giọng như muốn trấn an tôi, nhưng chẳng làm tôi yên tâm.
- Sayuri, chúng ta sẽ cắt trên da cô một vết nhỏ - Mameha nói – chỉ một vết nhỏ thôi để cô có thể đến bệnh viện, khi đó mới gặp được ông bác sĩ ấy. Cô có nhớ người đàn ông tôi đã nói đến với cô không? Ông ta là bác sĩ.
- Tôi không thể giả vờ đau đầu được à?
Tôi thật tình nói thế, nhưng hình như mọi người cho đó là câu nói đùa, vì họ phá ra cười, ngay cả Mameha.
- Sayuri – Mameha đáp – tất cả chúng tôi đều muốn công việc của cô được bảo đảm. chúng tôi chỉ cần một vết nhỏ chảy máu, đủ cho ông bác sĩ bằng lòng đến khám cho cô.
Ngay khi ấy bà đầu bếp đã mài dao xong, đến đứng trước mặt tôi, rất bình tĩnh như thể bà sắp giúp tôi làm công việc trang điểm, nhưng lạy trời, bà lại nắm cây dao trên tay. Kazuko, chị hầu lớn tuổi đưa tay mở cổ áo tôi ra. Tôi bắt đầu cảm thấy hốt hoảng, nhưng may thay Mameha lên tiếng nói:
- Chúng ta cắt trên chân.
- Đừng ở chân – Kazuko nói - ở cổ trông hấp dẫn hơn.
- Sayuri – Mameha nói – làm ơn quay người để cho chị Kazuko trông thấy chỗ rách ở sau áo kimono của cô.
Khi tôi quay người theo lời cô ấy bảo xuống, Mameha lại tiếp tục:
- Này chị Kazuko, nếu cắt ở cổ mà không cắt ở chân thì làm sao chúng ta giải thích vết rách này ở đàng sau áo của cô ấy?
- Tại sao lại ghép hai chuyện lại với nhau? Cô ấy mặc áo kimono bị rách và bị rách da ở cổ thôi.
- Tôi không hiểu tại sao chị Kazuko cứ nói huyên thuyên chuyện này để làm gì – bà bếp lên tiếng – cô Mameha, cứ nói cho tôi biết cô muốn tôi cắt cô ta ở đâu, tôi sè làm cho.
Nghe thấy thế đáng ra tôi nên mừng mới phải, nhưng tôi lại đâm lo.
Mameha sai cô hầu trẻ đi lấy chiếc đũa dùng để to son môi, rồi thọc qua chỗ rách trên áo kimono của tôi, vạch một dấu phía sau chân tôi ở trên cao.
- Chị cắt một đường ở đấy cho tôi – Mameha nói với bà đầu bếp.
Tôi mở miệng định nói, Mameha đã bảo tôi:
- Sayuri, bây giờ cô hãy nằm im. Nếu cô làm chậm trễ công việc thêm nữa, tôi sẽ giận đấy.
Nếu nói tôi muốn vâng lời cô ấy là tôi nói láo nhưng dĩ nhiên tôi không được làm thế. Tôi đành nằm lên tấm khăn trải giường trên sàn ván, nhắm mắt lại trong khi Mameha kéo áo tôi lên tận mông.
- Nên nhớ là vết cắt nếu cần sâu thêm thì phải cắt lại lần nữa – Mameha nói – bắt đầu cứ cắt cạn thôi.
Khi tôi cảm thấy mũi dao đụng vào chân, tôi cắn môi chờ đợi. Tôi cứ sợ mình sẽ thét lên, mặc dù tôi không muốn mình làm thế. Tôi cảm thấy mũi dao ấn xuống rồi Mameha nói:
- Như thế không được, chị mới rạch ngoài lớp da thôi mà.
- Trông giống như hai cái môi – Kazuko nói với bà đầu bếp – chị mới rạch một đường ngay giữa dấu son môi đỏ, trông như đôi môi. Ông bác sĩ sẽ cười chết.
Mameha đồng ý lau sạch vết son để bà đầu bếp có thể thấy rõ vết cắt và làm tiếp. Rồi tôi cảm thấy mũi dao ấn mạnh xuống một lần nữa.
Tôi là người rất yếu bóng vía khi thấy máu. Chắc anh còn nhớ tôi kể chuyện tôi bị rách môi ngày tôi gặp ông Tanaka rồi. Cho nên chắc anh hình dung được cảnh lúc ấy ra sao khi tôi quay người nhìn thấy một dòng máu chảy ngoằn ngoèo xuống chân, chảy lên cái khăn lớn mà Mameha đang cầm để hứng giọt máu xuống phía trong đùi tôi. Tôi liền cảm thấy hoa mắt, choáng váng đầu óc khiến tôi không nhớ sau đó chuyện gì đã xảy ra. Chắc tôi được dìu ra xe kéo, hay là xe gì đấy để đi bệnh viện. Lúc đến gần bệnh viện, Mameha mới lay đầu tôi, để cho tôi tỉnh táo. Cô ấy nói:
- Bây giờ nghe tôi nói đây. Chắc cô đã nghe nhiều lần người ta nói người tập sự phải gây ấn tượng mạnh lên các geisha khác, vì họ sẽ là những người giúp đỡ cô trong nghề, và đừng bận tâm về những điều đàn ông nghĩ cái gì. Bây giờ hãy quên hết những chuyện ấy đi. Trong trường hợp của cô, chúng ta không làm theo cách ấy! Tương lai của cô phụ thuộc vào hai người đàn ông, tôi đã nói rồi. Và cô sắp gặp người thứ hai. Cô phải gây ấn tượng thật mạnh lên ông ấy. Cô có nghe tôi nói không?
- Dạ nghe, thưa chị, em nghe không sót lời nào – tôi nói nho nhỏ.
- Khi người ta hỏi cô tại sao cô bị toạc chân, cô trả lời là cô mặc kimono đi vào phòng tắm và bị té vào vật gì đấy rất sắc. cô không biết vật ấy là cái gì,vì khi ấy cô bị ngất xỉu. Cô muốn miêu tả chuyện cô té xuống ra sao tùy cô, nhưng nói làm sao nghe có vẻ hợp lý là được. và làm ra vẻ bị xây xẩm khi chúng ta đi vào. Bây giờ làm thế tôi xem nào.
Tôi ngẩng đầu ra sau, nhắm nghiền mắt lại. tôi tưởng làm thế là đạt yêu cầu nhưng Mameha không hài lòng.
- Tôi không nói làm như chết. Tôi nói làm như bộ xây xẩm thôi. Như thế này này.
Mameha mở mắt nhìn lờ đờ như thể không địnhthần được, cặp mắt như không nhìn vào đâu hết và bàn tay áp lên má giống như cô sắp xỉu. Cô bảo tôi bắt chước làm cho giống vẻ mặt của cô cho đến khi cô ấy hài lòng mới thôi. Khi người lái xe dìu tôi vào bệnh viện, tôi làm theo lời cô ấy dặn. Mameha đi kèm bên tôi, kéo áo tôi khi phía bên này, khi phía bên kia sao cho tôi trông vẫn còn khêu gợi.
Chúng tôi đi qua hai cánh cửa xoay bằng gỗ rồi hỏi ông giám đốc bệnh viện, Mameha nói ông ta đang đợi chúng tôi. Một người y tá dẫn chúng tôi đi theo một hành lang dài đến một căn phòng bụi bặm, có kê cái bàn gỗ và tấm bình phong đơn giản chắn ngang cửa sổ. Trong khi chúng tôi chờ đợi, Mameha lấy cái khăn vấn quanh chân tôi vất vào sọt rác.
- Nhớ đấy Sayuri – cô ta thì thào – chúng ta cần ông bác sĩ thấy cô thơ ngây và đang bị xây xẩm. Nằm xuống đi và làm bộ yếu đuối mệt mỏi.
Tôi làm theo lời cô ấy không mấy khó khăn. Một lát sau cửa mở và ông bác sĩ Cua đi vào. Dĩ nhiên tên thật của ông ta không phải là Cua, nhưng nếu anh nhìn thấy ông ta, thế nào anh cũng cho rằng cái tên đấy thật thích hợp, vì hai vai ông ta rút vào nhau, hai khuỷu tay khùynh ra. Nếu ông ta nghiên cứu về cua thì chẳng mất công đi đâu xa, mà chỉ lấy mình để làm mẫu là được. Thậm chí khi đi, ông ta còn chìa một vai về phía trước, như con cua bò ngang vậy. Ông ta để râu mép và có vẻ rất mừng rỡ khi gặp Mameha, nhưng chỉ để lộ sự mừng rỡ trên ánh mắt ngạc nhiên hơn là trên nụ cười.
Bác sĩ Cua là người ngăn nắp, cẩn thận. Khi ông đóng cửa, ông quay tay nắm để cho cái then khỏi phát ra tiếng ồn, rồi ấn mạnh vào cửa để xem cửa đã đóng chưa. Sau khi đóng cửa xong, ông ta lấy trong túi áo ra một cái hộp, ông cẩn thận mở hộp ra, như thể ông sợ nếu không cẩn thận, đồ trong hộp sẽ văng ra ngoài ngay. Nhưng đó chỉ là một cặp kính đeo khác. Khi đã thay cặp kính xong, ông bỏ cặp kính kia vào hộp, bỏ hộp vào túi áo và vuốt áo cho thẳng thắn. Cuối cùng ông ta nhìn tôi và gật nhẹ đầu. Mameha liền lên tiếng:
- Thưa bác sĩ, xin lỗi đã quấy rầy bác sĩ. Nhưng Sayuri đang có trước mắt tương lai tươi sáng, thế mà hiện cô ta đang gặp rủi ro vì bị rách chân! Có khả năng cô ấy sẽ bị mang sẹo, bị nhiễm trùng, nguy hiểm khác nữa. Nên tôi nghĩ ông là người duy nhất có thể chữa trị được cho cô ấy thôi.
- Đúng thế - bác sĩ Cua đáp – có lẽ tôi phải xem qua vết thương cho biết.
- Tôi biết Sayuri rất yếu bóng vía khi nhìn thấy máu, bác sĩ à – Mameha nói – tốt nhất nên để cô ấy quay mặt đi chỗ khác, để cho ông dễ dàng khám vết thương phía sau đùi cô ta.
- Tôi hiểu. Tôi nhờ cô yêu cầu cô em nằm sấp trên bàn khám, có được không?
Tôi không hiểu tại sao bác sĩ Cua không hỏi tôi, nhưng để tỏ ra vâng lời, tôi đợi cho đến khi Mameha nói với tôi. Rồi ông bác sĩ kéo áo tôi lên đến tận mông, lấy vải hay cái gì đấy nhúng nước sát trùng lau lên chân tôi rồi nói:
- Cô Sayuri, vui lòng nói cho tôi biết tại sao cô lại bị thương như thế này.
Tôi hít vào một hơi dài, làm như có vẻ vẫn còn quá yếu, rồi mới trả lời:
- Dạ, khó nói quá, nhưng sự thật là chiều nay tôi uống quá nhiều nước trà… - Sayuri vừa mới làm tập sự - Mameha nói chen vào – tôi dẫn cô ấy đi giới thiệu với mọi người ở Gion, đương nhiên mọi người đều mời cô ấy uống trà.
- Phải, đương nhiên là thế - bác sĩ Cua đáp.
- Cho nên – tôi nói tiếp – tôi cảm thấy cần phải …ờ, chắc ông biết… - Uống trà nhiều thì phải đi tiểu thôi – bác sĩ nói.
- Ồ, cám ơn bác sĩ. Đúng ra thì nói “phải đi tiểu” thôi chưa đủ. Vì khi ấy tôi thấy trước mắt tôi mọi vật đều quay cuồng, nói thế chắc ông hiểu… - Sayuri – Mameha lên tiếng – nói cho bác sĩ nghe chuyện xảy ra như thế nào thôi.
- Dạ xin lỗi – tôi đáp – tôi muốn nói khi ấy tôi chóng mặt nên thấy phòng vệ sinh không rõ… cho nên khi đến đấy…tôi loay hoay lo giữ chiếc kimono cho khỏi vướng, và thế là tôi đã mất thăng bằng, nên té xuống. Khi té như vậy, chân tôi đâm phải một cái gì rất sắc. Tôi không biết vật ấy là cái gì, vì khi đó tôi đã ngất xỉu.
- Cũng lạ là khi cô ngất xỉu, cô không đi tiểu ra ngoài – ông bác sĩ nói.
Khi ấy tôi đang nằm sấp, hai tay đỡ mặt lên khỏi mặt bàn vì sợ bị bẩn phần hóa trang, và nói trong khi bác sĩ nhìn sau đầu tôi. Nhưng khi ông bác sĩ Cua nói như thế, tôi quay đầu nhìn Mameha. May thay cô ấy nghĩ ra một ý nhanh hơn tôi, cô ấy vội trả lời:
- Sayuri muốn nói rằng cô ấy mất thăng bằng khi cố đứng lên sau khi ngồi xổm để tiểu.
- Ra thế - bác sĩ nói – vết thương bị vật gì rất sắc cắt phải. Có lẽ cô ấy nhào lên trên kính vỡ hay miếng sắt mỏng.
- Dạ phải, có lẽ vật ấy rất sắc – tôi nói – sắc như dao!
Ông bác sĩ Cua không nói gì nữa. Ông rửa vết thương rất nhẹ tay như thể ông sợ làm tôi đau, rồi sau đó ông dùng nước oxy già để lau máu khô trên chân tôi. Cuối cùng ông nói vết thương chỉ cần thoa kem và băng lại là được. ông ta dặn dò tôi cách chăm sóc vết thương trong vài ngày tiếp theo. Dặn xong, ông kéo áo tôi xuống, tháo cặp kính trên mắt ra như thể ông sợ dùng nhiều quá kính sẽ vỡ mất.
- Rất tiếc cô đã làm hỏng chiếc áo đẹp – ông ta nói – nhưng tôi rất mừng là vì có cơ hội này tôi mới gặp cô. Mameha biết tôi rất quan tâm đến những khuôn mặt mới.
- Ồ không, thưa bác sĩ, chính tôi mới sung sướng được hân hạnh gặp ông – tôi đáp.
- Có lẽ tôi sẽ gặp lại cô vào một buổi tối gần đây ở phòng trà Ichiriki.
- Nói thật ra, thưa bác sĩ – Mameha nói – Sayuri là của báu, chắc ông cũng thấy thế. Cô ấy có rất nhiều người hâm mộ cho nên tôi cố giữ cô ấy khỏi đến phòng trà Ichiriki chừng nào hay chừng nấy. Có lẽ chúng tôi nên đến thăm ông ở phòng trà Sharao thì hơn, có phải thế không?
- Được, tôi cũng thích phòng trà ấy – bác sĩ Cua đáp. Rồi ông ta lặp lại cái thủ tục thay kính đeo mắt để ông ta có thể nhìn vào cuốn sổ nhỏ ông ta lấy ra từ túi áo – tôi sẽ đến đấy…xem nào…cách đây hai hôm nữa. Tôi hy vọng gặp các cô ở đấy.
Mameha hứa chắc chắn với ông ta rằng chúng tôi sẽ ghé vào đấy rồi chúng tôi cáo từ ra về.
Ngồi trên xe kéo về lại Gion, Mameha nói rằng tôi đã làm rất tốt.
- Nhưng thưa chị Mameha, em có làm gì đâu?
- Ồ thế à? Thế cô không trông thấy cái trán của ông bác sĩ ra sao à?
- Em chẳng thấy gì hết ngoài cái bàn khám trước mặt em.
- Này nhé, trong khiông bác sĩ lau máu trên chân cô, trán ông ta lấm tấm mồ hôi như thể chúng ta đang ở giữa mùa nóng. Nhưng trong phòng khi ấy trời không nóng, phải không?
- Dạ, phải.
- Đấy, vì sao thế? - cô ấy thốt lên.
Tôi không biết cô ấy muốn nói đến cái gì, hay đúng ra tôi không biết cô ấy dẫn tôi đến gặp ông bác sĩ với mục đích gì, nhưng tôi không dám hỏ . Vì cô ấy đã nói rằng sẽ không cho tôi biết trước kế hoạch của cô ấy. Rồi khi người phu kéo đưa chúng tôi qua cầu ở đại lộ Shijo, Mameha chấm dứt câu chuyện ở nửa chừng.
- Sayuri này, chắc cô biết khi mặc cái áo kimono này, mắt cô rất tuyệt vời. Màu đỏ tươi và màu vàng…làm cho mắt cô sáng long lanh như ánh bạc! Ôi trời ơi! Không biết tại sao tôi không nghĩ ra ý này sớm hơn! Này bác phu! – cô gọi lớn – chúng ta đã đi qua rồi. Cho chúng tôi xuống chỗ này thôi.
- Cô đã bảo đến Gion Tominaga kia mà, thưa cô. Tôi không hạ càng xe xuống ở giữa cầu được.
- Bác hoặc là để chúng tôi xuống, hoặc kéo chúng tôi qua cầu rồi kéo ngược lại. Nói trắng ra, tôi thấy bác chẳng cần nhọc công làm gì.
Bác phu xe hạ càng xe xuống tại chỗ, tôi và Mameha bước ra khỏi xe. Một số xe đạp đi qua rung chuông inh ỏi nhưng Mameha chẳng tỏ vẻ quan tâm tí nào. Tôi nghĩ cô ấy rất tự tin vào địa vị của mình, chuyện cản trở lưu thông do cô ấy gây như thế đối với cô ấy chỉ là chuyện nhỏ, chẳng ai phiền phức gì hết. Cô ấy cứ thủng thỉnh như không có việc gì xảy ra, móc chiếc ví lụa ra và đếm từng xu để trả tiền xe. Rồi cô ấy dẫn tôi đi lui qua phía bên kia cầu nơi chúng tôi vừa mới đi qua.
- Chúng ta sẽ đến phòng vẽ của Uchida Kosaburo - cô ấy nói - ông ta là họa sĩ có tiếng, thế nào ông ta cũng thích cặp mắt của cô, tôi nghĩ thế. Rồi cô sẽ thấy thỉnh thoảng ông ta có hơi lơ đãng. Còn phòng vẽ của ông ta thì rất lộn xộn. Có thể phải mất một thời gian ông ta mới để ý đến cặp mắt của cô, nhưng cô cứ nhìn vào ông ta để cho ông ta thấy.
Tôi đi theo Mameha qua mấy con đường rẽ cho đến khi tới một con hẻm nhỏ. Cuối con đường này là một cái cổng của đền thờ Thần màu đỏ nhạt, nhỏ và nằm giữa hai ngôi nhà. Qua khỏi cổng, chúng tôi đi qua nhiều phòng triển lãm nhỏ, đến chân một cầu thang bằng đá, có hai hàng cây hai bên. Trời đã sang thu nên lá cây đổi màu óng ánh. Gió thoảng đưa hơi lạnh như nước từ con đường hầm nhỏ ẩm ướt ở dưới chân cầu thang lên, tôi có cảm giác như mình đang đi vào một thế giới xa lạ. Tôi nghe có tiếng rào rào như tiếng thủy triều tràn lên bãi cát, nhưng nhìn kỹ té ra đấy là tiếng nước chảy do một người đàn ông đang quét nước trên đầu cầu thang, ông ta đứng quay lưng về phía chúng tôi, tay cầm cây chổi.
- Chào ông Uchida - Mameha lên tiếng - ông không có ai để dọn dẹp nhà cửa à?
Người đàn ông trên đầu cầu thang đứng giữa nắng, cho nên khi ông quay lại nhìn chúng tôi, có thể ông không trông rõ chúng tôi đang đứng dưới bóng cây. Tuy nhiên tôi thấy ông ta rất rõ. Ông có vẻ kỳ cục lạ đời. Một nốt ruồi khổng lồ nằm bên khóe miệng giống như dính một miếng thức ăn, hai hàng lông mày rậm như hai con ngài bò từ trên tóc xuống nằm ngủ tại đấy. Cái gì trên người ông ta cũng lộn xộn, mất trật tự. Không chỉ mái tóc thôi, mà cả cái áo kimono ông ta mặc cũng nhàu nhò trông như ông ta mặc đi ngủ tối hôm trước.
- Ai đấy? - ông ta hỏi.
- Uchida! Quen nhau nhìều năm rồi mà ông vẫn không nhận ra được giọng của tôi à?
- Dù các người là ai, mà nếu có muốn chọc giận tôi thì hãy cút đi ngay tức khắc. Tôi bận, không rảnh đâu. Nếu các người không cho tôi biết các người là ai, tôi sẽ ném cái chổi này vào mặt đấy!
Nếu ông Uchida cắn cái mụn nốt ruồi rồi phun vào mặt chúng tôi, thì việc ông ta tức giận chẳng làm tôi ngạc nhiên. Nhưng Mameha cứ đi tiếp lên cầu thang và tôi đi theo cô ấy, nhưng tôi cẩn thận đi sau lưng cô để nhỡ ông ta có ném cái chổi thì cô hứng lấy.
- Ông tiếp khách như thế sao ông Uchida? – Mameha nói khi lên đến đoạn cầu thang có ánh nắng.
Uchida nhìn vào mặt cô.
- Thì ra là cô. Tại sao cô không xưng danh tánh như mọi người ? Này, cầm cái chổi quét cầu thang đi. Không ai được vào nhà tôi khi tôi chưa thắp nhang. Một con chuột khác của tôi đã chết, nhà cửa hôi hám như có thây ma.
Mameha có vẻ thích thú khi nghe ông ta nói, cô ấy đợi cho đến khi Uchida đi khỏi mới dựng cái chổi vào trong một góc.
- Có khi nào cô bị mụt nhọt chưa? - cô ấy nói nhỏ với tôi – khi công việc của Uchida không trôi chảy, ông ta lâm vào tình trạng rất khủng khiếp. Người ta phải làm cho ông ta bớt căng thẳng, như ngắt cái mụt nhọt đi để cho ông ta bình tĩnh trở lại. Nếu người ta làm gì cho ông ấy tức giận, ông ấy sẽ uống rượu và chỉ có hại mà thôi.
- Thế ông ấy có nuôi chuột trong nhà à? – tôi hỏi nhỏ - ông ấy vừa nói có một con chuột nữa bị chết… - Trời đất, không có. Ông ta để mực dính khắp nơi, chuột đến ăn rồi ngộ độc chết. Tôi đã cho ông ta cái thùng để bỏ mực vào đấy, nhưng ông ta không dùng đến.
Cánh cửa bỗng bật mở - vì ông đạp cho nó mở toang ra – rồi ông bước ra. Mameha và tôi tháo giày ra đi vào nhà. Nhà chỉ là căn phòng rộng theo kiểu nhà ở nông trại. Tôi thấy nhang cháy ở trong góc phòng nhưng chưa có hiệu quả gì, vì mùi chuột chết nồng nặc hôi như có ai trét phân vào mũi tôi. Căn phòng còn bừa bãi lộn xộn hơn cả phòng của Hatsumono nữa, bút vẽ vứt rải rác khắp nơi, cái thì gãy, cái thì mòn, những khung vẽ lớn bằng gỗ vẽ tranh thủy mặc còn lở dở chưa xong. Ở giữa cảnh ngổn ngang lộn xộn này là tấm đệm làm giường ngủ với chăn mền dính đầy mực, và khi tôi quay qua ông để xem sao thì ông ta nhìn tôi và hỏi:
- Cô nhìn cái gì thế?
Mameha nói:
- Ông Uchida, xin giới thiệu với ông đây là cô em của tôi, Sayuri. Chúng tôi đi từ Gion đến đây để hân hạnh được gặp ông.
Đường đi từ Gion đến đây không xa lắm, nhưng dù sao tôi cũng qùy xuống chiếu thực hiện thủ tục cúi chào, xin Uchida miễn lỗi, mặc dù tôi không tin ông ta nghe được tiếng nào của Mameha nói với ông.
- Tôi đã có một ngày đẹp cho đến tận bữa ăn trưa – ông ta nói - rồi thấy chuyện xảy ra như thế này đây!
Uchida đi qua phòng lấy một cái khung gỗ. Trên khung, đính bằng kim găm một bức phác thảo vẽ một người phụ nữ nhìn từ phía sau, cô ta nhìn nghiêng và tay cầm cái dù. Nhưng một con mèo rõ ràng dẫm chân vào mực rồibước lên bức vẽ, để lại dấu chân trên đó. Con mèo đang cuộn mình nằm ngủ giữa đống quần áo dơ.
- Tôi mang con mèo vào để bắt chuột, thế mà nhìn kìa! – ông ta nói tiếp – tôi định ném nó đi đấy.
- Ồ, nhưng dấu chân con mèo đẹp quá – Mameha nói – tôi nghĩ nó làm tăng giá trị của bức tranh. Sayuri, cô nghĩ sao?
Tôi có ý định không nói gì vì Uchida có vẻ buồn chán khi nghe ý nghĩ của Mameha, nhưng bỗng tôi nghĩ rằng cô ấy muốn “ngắt cái mụt nhọt” mà cô đã gây nên đi. Cho nên tôi lấy giọng hết sức thân ái mà nói:
- Tôi ngạc nhiên thấy cái dấu chân mèo mới hấp dẫn làm sao. Tôi nghĩ con mèo là giống vật có máu họa sĩ.
- Tôi biết tại sao ông không thích con mèo – Mameha tiếp tục – ông ganh với tài năng của nó.
- Tôi ganh à? – Uchida hỏi – con mèo ấy không phải là họa sĩ. Nếu nó có tài năng gì, thì đấy là tài năng của quỷ sứ.
- Xin tha lỗi cho tôi, ông Uchida – Mameha đáp – Tùy ông thôi. Nhưng xin ông cho tôi biết có phải ông định vứt bức tranh ấy đi hay không? Vì nếu ông vứt, xin ông vui lòng cho tôi. Treo nó trong phòng tôi đẹp chán đi chứ, phải không Sayuri?
Khi nghe thấy thế, Uchida lột tấm tranh ra khỏi khung.
- Cô thích bức tranh phải không? Được rồi , tôi tặng cô hai món quà. – nói xong ông ta xé bức tranh ra làm hai đưa cho Mameha và nói tiếp – đây là một, và đây là một nữa. Bây giờ cô hãy đi ra khỏi đây!
- Tôi ước gì ông đừng làm thế - Mameha nói – đây là bức tranh đẹp nhất chưa từng có của ông.
- Đi ra khỏi đây!
- Ô ông Uchiđa, tôi không thể đi ra khỏi được! Nếu tôi không dọn dẹp ngăn nắp nhà cửa cho ông một tí trước khi ra về, thì chắc tôi không phải là bạn của ông.
Nghe thế, Uchida bước nhanh ra khỏi nhà, để cửa mở. Chúng tôi thấy ông ta đá cái chổi mà Mameha đã để dựa vào một góc, và tí nữa thì trượt chân té nhào khi ông đi xuống tầng cấp ẩm ướt. Chúng tôi dọn dẹp phòng vẽ của ông gần nửa giờ mới thấy ông về, thái độ bình tĩnh hơn, y như Mameha đã tiên đoán. Ông ta chưa trở lại trạng thái mà tôi có thể gọi là vui vẻ, ngoài ra, ông ta có thói quen cứ nhai vào cái nốt ruồi bên cạnh miệng nên trông ông ta có vẻ lo âu rầu rĩ. Tôi đoán chắc ông ta cảm thấy ân hận vì thái độ đối xử với chúng tôi hồi nãy, vì ông không nhìn thẳng vào hai chúng tôi. Chẳng bao lâu sau, chúng tôi nhận thấy ông chẳng chú ý đến mặt của tôi chút nào hết, nên Mameha nói với ông ta:
- Ông không nhận ra Sayuri là người đẹp à? Ông không thèm nhìn đến cô ấy hay sao?
Tôi nghĩ cô ấy nói như thế là hết nước, nhưng Uchida chỉ liếc mắt nhìn thoáng tôi như quét vụn bánh mì trên bàn. Mameha có vẻ rất thất vọng. Ánh chiều tà đã ngả bóng, nên cả hai chúng tôi đứng dậy ra về. Cô ấy cúi chào lấy lệ và nói lời tạm biệt. Khi chúng tôi đi ra ngoài, tôi không thể nào không dừng một lát để ngắm cảnh hoàng hôn, bầu trời sau những cánh đồng xa xa nhuốm màu gạch và màu hồng trông tươi đẹp như màu chiếc kimono đẹp - thậm chí còn đẹp hơn, vì chiếc áo kimono có đẹp đến đâu đi nữa thì màu sắc của nó cũng không nhuốm lên tay mình được. Trái lại ánh mặt trời lúc hoàng hôn đã rót lên tay tôi đủ màu sắc như cầu vòng. Tôi đưa hai bàn tay lên trong ánh chiều hôm và ngắm nhìn một lúc:
- Chị Mameha, chị nhìn kìa.
Tôi nói với cô ấy nhưng cô ấy tưởng tôi nói về cảnh hoàng hôn, cô quay đầu lại nhìn với vẻ lãnh đạm. Ông Uchida đứng bất động nơi ngưỡng cửa, vẻ mặt chăm chú, tập trung, một tay lồng vào trong mái tóc đốm bạc. Nhưng ông ta không nhìn cảnh hoàng hôn. Ông ta nhìn tôi.
Nếu anh thấy được bức tranh thủy mặc lừng danh của Uchida Kosaburo về người thiếu nữ đang đứng trong trạng thái ngây ngất, cặp mắt long lanh…Ừ, ngay từ đầu ông ta đã nhất quyết giữ cảnh ông ta thấy vào chiều hôm ấy. Quả tôi không tin nổi ông ta. Tôi không ngờ cái bức tranh đẹp tuyệt vời như thế lại có thể căn cứ vào hình ảnh cô gái đứng ngây ngô nhìn vào hai bàn tay mình trong ánh hoàng hôn. [Nguồn : [url=http://thuviencs.xtgem.com][b]ThuVienCs.Xtgem.Com[/b][/url]]
Bài Viêt Chỉ Có Tại
Http://ThuVienCs.Xtgem.Com
Đánh giá:
[
-
] :
/
Tên bài:
[Truyện Tiểu Thuyết] Đời kỹ nữ (Hồi ức của một geisha)
Chuyên mục:
Tiểu Thuyết
Lượt xem:
Chia sẻ:
Link:
Từ khóa:
Cùng Chuyên Mục
Chênh vênh hai lăm - Nguyễn Ngọc Thạch
[Truyện Tiểu Thuyết] Đời kỹ nữ (Hồi ức của một geisha)
Tiểu Thuyết Hay - Vì Sao Đông Ấm Full Chap
Tiểu Thuyết - Tình Yêu Thì Ra Ấm Áp Như Vậy
Dế mèn phiêu lưu kí
Bài viết ngẫu nhiên
Một câu chuyện cảm động
[Tiểu Thuyết] 1 Lít Nước Mắt - Nhật Kí Aya Kitou
Em chết đi! Anh sẽ...
Tặng những người yêu nhau nhưng không thể ở bên nhau
Truyện ngắn | 18 năm chờ đợi tình yêu
» Ẩn Quảng Cáo «
SEO : Bạn đến từ :
Timeload: 0.0042/s
Timeout: 0%
Text :
Truyen Voz
|
Truyen Tieu Thuyet
|
Tieu thuyet tinh yeu
|
Truyện Ma
|
Truyện Sex
|
Truyen teen
|
Truyen tieu thuyet
|
Tien ich
|
Truyen ngan
|
Truyen ma
|
Fansign online
|
Sms kute
|
Tin nhan xep hinh
|
Sms valentine
|
Sms chuc ngu ngon
|
Sms noel
|
Sms tinh yeu
|
sms ngay 8-3
|
Sms ngay 20-10
|
Sms dep
|
Tao logo online
|
1 | 1 | 12509
sitemap.txt
Polly po-cket